DERBY MANCHESTER VÀ CHUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI “CHƠI BÓNG”

Từ câu chuyện Makelele 

Mùa Hè 2003, sau những thành công của Galacticos thế hệ Zidane, Claude Makelele được bán sang Chelsea với cái giá chưa được 20 triệu bảng Anh. Nhiều người đã sững sờ với sự chia tay ấy. Sững sờ hơn nữa khi chính chủ tịch Perez đã nói rằng “Chúng tôi chả việc gì phải nhớ Makelele. Anh ta thiếu kỹ thuật, thiếu tốc độ để dắt bóng vượt qua đối thủ. Anh ta cũng không biết chơi đầu, chuyền bóng không quá được 3 mét. 90% cống hiến của anh ta chỉ là lùi về hoặc giãn rộng sang hai biên để hỗ trợ phòng ngự. Sẽ có những cầu thủ trẻ đến đây và nhanh chóng để Makelele rơi vào quên lãng”.

Tuyên bố của Perez khiến nhiều người nói ông bạc. Thậm chí, có người còn cho rằng Perez quá ngạo mạn, chả biết gì về bóng đá và chẳng qua Makelele bị gạt khỏi Real chỉ vì anh có màu da đen và không điển trai kiểu galacticos. Những chê trách cho Perez có vẻ ngày càng đúng hơn khi Makelele đóng góp rất nhiều cho thành công của Chelsea dưới tay Mourinho. Còn Perez, xui xẻo cho ông là sau khi Makelele ra đi, chu kỳ thành công của Real cũng khép lại. Điều đó khiến người ta dễ quy đồng mẫu số về nguyên nhân mang tên tiền vệ người Pháp, nhất là khi anh đã có một World Cup 2006 chiến đấu lăn xả để đưa Les Bleus đến tận trận chung kết. Và cho tận đén bây giờ, nhiều người vẫn lôi lại câu chuyện ấy để chỉ trích Perez. Nhưng liệu Perez có điên rồ, ngạo mạn hay dốt nát như định kiến? Không, thật ra ông là chủ tịch vĩ đại nhất mà chúng ta từng biết trong lịch sử bóng đá đương đại, khi con mắt nhìn cầu thủ của ông là con mắt “tiên tri”.

Trong cuốn The Mixer của tác giả Micheal Cox có một đoạn mô tả thuộc tính của một tiền vệ phòng ngự rất đáng tham khảo rằng “Trước kia, hình mẫu một tiền vệ phòng ngự chuẩn là phải có thể hình tốt, có tốc độ, tranh chấp tốt và “ơn trời, sẽ quá tuyệt vời” nếu anh ta có thêm kỹ năng chuyền bóng tốt”.  Michael Cox dùng mô tả thuộc tính đó để nói về sự biến chuyển trong các đòi hỏi tối thiểu về một tiền vệ phòng ngự ở thời hiện đại so với quá khứ. Hôm nay, đòi hỏi về tiền vệ phòng ngự không còn gói gọn trong vài tiêu chuẩn như thế nữa mà đã thêm vào đó là khả năng điều phối bóng, chuyền bóng, phát động và thậm chí tổ chức một đợt tấn công nếu cần. Và nếu chúng ta so sánh Makelele với “truyền nhân” của anh là Kante, chúng ta sẽ thấy rằng Kante hơn Makelele một tầm đẳng cấp ở khả năng luân chuyển vị trí chứ không chỉ còn là một số Sáu cần mẫn cổ điển đơn thuần. Nói cách khác, Kante và Makelele chính là ví dụ cụ thể cho sự nâng cấp phiên bản của một tiền vệ phòng ngự chơi ở vị trí số Sáu.

Đòi hỏi trong bóng đá đã khác 

Kể lại câu chuyện về chủ tịch Perez và Makelele để chúng ta hiểu rằng, bóng đá đã và đang thay đổi rất nhiều. Theo như Roberto Mancini, trong một phỏng vấn cách đây đã lâu, để trả lời câu hỏi “chiến thuật trong bóng đá sẽ phát triển theo xu thế nào?”, ông đã trả lời đơn giản rằng “sẽ thiên về xu hướng phát triển cá nhân cầu thủ hơn. Sẽ đòi hỏi cầu thủ phải kỹ thuật hơn, khôn ngoan hơn, biết thay đổi mình để phù hợp với các đòi hỏi cụ thể của HLV hơn nữa”. Và điều Mancini nói đã đúng. Hôm nay, ngoài câu chuyện của vị trí tiền vệ phòng ngự, những đòi hỏi cải thiện, nâng cấp ở các vị trí khác cũng ngặt nghèo hơn. Điển hình là ở vị trí thủ môn và trung vệ, hai vị trí vốn dĩ chúng ta chỉ nghĩ nhiệm vụ là “phòng ngự” hoàn toàn.

Hãy nhớ lại việc Pep Guardiola đã cư xử thế nào với Joe Hart khi ông mới tới Man City. Nhiều người đã nói Guardiola sai lầm, quá khắt khe hoặc có thiên kiến riêng với thủ thành người Anh. Nhưng hôm nay Pep cho thấy ông đã đúng. Hart không những không tiến bộ hơn mà còn cùn mòn đi dù anh có đủ cơ hội khoác áo các đội bóng mạnh sau Man City. Dễ hiểu, Hart là một thủ thành kiểu cũ trong khi bóng đá hiện đại đòi hỏi thủ môn phải biết chơi bóng thực sự để có thể là một nguồn phát động khi cần.

Sau trận Man United thua West Ham 1-3, Mourinho đã không tiếc lời trách cứ các hậu vệ của mình. Ông cho rằng họ không đủ kỹ năng để “chơi bóng”. Và điều Mourinho nói là hoàn toàn đúng. Thực sự, ở Man United hiện nay, ngoài những vấn đề ở trung tâm hàng tiền vệ, thứ mà đội bóng ấy đang thiếu chính là những hậu vệ có khả năng phát động tốt. Thực sự, ở hàng thủ của Man United, ngoài Ashley Young, Luke Shaw, không có cầu thủ nào có khả năng phát động cả. Bi kịch hơn nữa, trong số các trung vệ mà Mourinho có trong tay không có một ai là dạng trung vệ chơi bóng (ball playing defender) đúng nghĩa. Họ có thể mạnh trong đánh chặn, tranh chấp tay đôi nhưng ở khâu chuyền bóng, họ quá non kém so với các đối thủ lớn. 

Screen Shot 2018-11-09 at 2.10.12 PM

Hãy nhìn lại trận thắng của Man United ở Turin giữa tuần qua, chúng ta sẽ nhận ra rằng thực tế về thế trận, Man United không thắng Juventus. Có thể hàng thủ Juventus mắc lỗi, thậm chí đá phản lưới nhà để thua ngược lại 1-2 nhưng chính pha phát động tấn công của Bonucci là thứ mà Man United đang thiếu, rất thiếu. Ở pha bóng đó, Bonucci có thể chuyền an toàn ra biên phải hoặc đưa bóng vào giữa sân cho đồng đội. Nhưng anh ta ý thức được Ronaldo đang ở vị trí nào, xu hướng di chuyển ra sao và anh ta đã tung đường chuyền đón hướng di chuyển ấy rất chuẩn xác. Trong khi đó, cũng trong trận đó, Smalling và Lindelof chỉ có tổng cộng 5 đường mở bóng dài cả trận, một con số khiêm tốn vô cùng.

Screen Shot 2018-11-09 at 2.12.12 PM

Man City đang có hàng thủ biết chơi bóng hơn 

Ở khía cạnh này, Man City, đối thủ của Man United ở trận derby chủ nhật này đang sở hữu những hậu vệ chơi bóng rất tốt. Nếu nhìn vào con số thống kê, ở trận Man City thắng Tottenham trên sân khách, cặp Laporte – Stones có tới 18 cú mở bóng dài mang tính chất phát động. Pep Guardiola luôn xây dựng đội bóng của mình với những con người như thế ở tuyến hậu vệ. Dễ hiểu, ông muốn đội bóng xây dựng lối chơi từ tuyến dưới (build from back). Và Mourinho, dẫu rằng ông không chủ trương xây dựng lối chơi giống Pep nhưng ông cũng cần những hậu vệ hiện đại với đôi chân chuyền bóng chuẩn xác. Lý do rất đơn giản, Mourinho có 1 điểm tương đồng với Pep trong triết lý bóng đá dù về tổng thể, cả hai khác biệt nhau xa, thậm chí còn có phần đối nghịch nhau.

Pep có một chủ trương mà ông theo đuổi là “phản công lại từ các đợt phản công” (counter off the counter). Đội bóng của Pep luôn săn bóng ngay khi mới mất bóng và khi đối thủ tổ chức phản công, nếu đội bóng của Pep đoạt lại được bóng, họ sẽ phải dàn xếp và tổ chức một đợt phản công lại bằng tốc độ và kỹ thuật để chớp lấy cơ hội mang tính tình thế. Còn Mourinho lại coi phòng thủ chắc chắn là yêu cầu hàng đầu nhưng khi đoạt bóng phải phản công nhanh bằng những đường bóng tốc độ và chuẩn xác. Với Mourinho, ở không gian 30 mét trước mặt khung thành đội nhà, đội bóng phải tổ chức chặt chẽ, bóp nghẹt mọi không gian phát triển bóng của đối thủ, buộc họ chuyền quanh quẩn hoặc chuyền về. Sau đó, khi đội bóng của Mourinho đoạt đuợc bóng, việc phản công phải được tổ chức trong vòng 1 hoặc 2 giây. Đó chính là vũ khí hữu hiệu nhất của triết lý Mourinho xuyên suốt những đội bóng mà ông từng huấn luyện.

Và cả 2 lối chơi “phản công từ các đợt phản công” của Pep cùng phòng ngự chắc chắn, phản công chuẩn xác của Mourinho đều đòi hỏi những hậu vệ phải có kỹ năng chơi bóng thực sự. Hãy hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu trung vệ của Pep hoặc Mourinho đoạt bóng từ cầu thủ sáng tạo đối thủ và không thể đáp ứng yêu cầu phản công nhanh mà HLV đề ra? Và điều đó đang xảy ra ở Man United trong khi ở Man City, Pep đã hoàn thiện hàng thủ của mình từ mùa giải trước, khi Aymeric Laporte góp mặt.

Aymeric+Laporte+Manchester+City+vs+Brighton+9nUHVXBp8Bax

Nhắc đến đây, chắc chúng ta sẽ quay lại với câu nói “thường xuyên” suốt cả năm qua. Đó là “Ai là người đưa Bailly và Lindelof về? Không phải là Mourinho sao?”. Vẻ ngoài thì như thế nhưng thực sự, câu chuyện ở Man United hôm nay vẫn còn rất bí ẩn. Song, với triết lý, các đòi hỏi dành cho cầu thủ, lịch sử sử dụng với những Ricardo Carvalho, Lucio, Varane, chúng ta có thể nghĩ rằng người tuyển trạch chính ở Man United không phải là Mourinho. Và hãy nhớ, ở thời kỳ thứ hai của ông tại Chelsea. ông cũng không còn là người quyết định chọn ai để mua sắm nữa. Vậy thì có nên đặt ra câu hỏi: “Ai đã đưa đá cuội cho Mourinho và sau đó đòi ông chế biến món omlette?”.

MOURINHO VÀ VŨNG LẦY Ở HÀNG TIỀN VỆ 

 

“Pogba không đủ tính kỷ luật để chơi ở trung tâm hàng tiền vệ, kể cả là ở đội dự bị”, Fletcher đã nói đại khái như thế về Pogba, trước khi Man United hành quân sang Turin chơi trận cầu sinh tử với Juve. Đó là trận cầu thứ nhất của tuần vô cùng quan trọng với Mourinho. Cuối tuần ông còn phải tới Etihad, chơi một trận derby với đối thủ lớn nhất của mình, đối thủ mà ông thường phải chịu lép vế: Pep Guardiola.
Nhận xét của Fletcher nghe có thể gây tranh cãi nhưng nó được xác thực bằng trải nghiệm của chính Fletcher 6 năm trước, khi anh đang trong giai đoạn hồi phục chấn thương và xuống tập với đội dự bị của Pogba ở Man United. Fletcher không hẳn muốn chê bai Pogba, mà đúng hơn, anh chỉ ra bản chất và các điểm mạnh – yếu của cầu thủ người Pháp. Theo Fletcher, Pogba là cầu thủ thiên bẩm, có lối chơi trình diễn mà anh vô cùng thích thú. Nhưng theo anh, Pogba chơi số 10 là hợp lý nhất, chứ không phải bị buộc phải lùi sâu về ở trung tâm hàng tiền vệ. Ở đó, Pogba sẽ bị giới hạn rất nhiều vì bị ép vào kỷ luật chiến thuật. Con người Pogba là hoang dã, và sống trên niềm hứng khởi. Anh chơi bóng kiểu “ứng tác” nhiều hơn là làm việc rập khuôn theo một khung hành động được người khác vạch ra từ trước. Và bởi thế, anh phải thuộc về không gian của tự do, để sáng tạo, và để thúc đẩy niềm cảm hứng của những đồng đội bên cạnh mình.

Song song với quan điểm của Fletcher, cũng có những đánh giá rằng Pogba không phải là cầu thủ phù hợp với sơ đồ 4-2-3-1. Họ quan niệm như Fletcher về tinh thần tự do, về khát vọng trình diễn, về khả năng tạo đột biến ở khoảng cách khoảng 20-30m cách khung thành đối thủ cũng như kỹ năng cầm bóng, qua người điệu nghệ và tự tin của một PogbArtist. Và họ đánh giá rằng việc bắt Pogba lùi về chơi hỗ trợ phòng ngự là không thể, là phí phạm, là không biết cách để giúp anh tỏa sáng. Nói chung, họ giống chúng ta rất nhiều về khả năng chém gió mà quên béng mất rằng hình như mình trót phun rất nhiều mưa vào mặt người đối diện với mình.

Thực tế, muốn nói Pogba có phù hợp với sơ đồ 4-2-3-1 hay không, chúng ta phải ít ra nắm được dữ kiện ở 2 điểm: về cá nhân Pogba và về hệ thống tiền vệ trong sơ đồ 4-2-3-1. Ở điểm này, có vẻ như Fletcher chỉ hiểu sơ đồ 4-2-3-1 chứ chưa thể “hiểu” Pogba. Nói vậy không phải là phủ nhận Fletcher mà chỉ để nhận thấy rằng Fletcher đang đánh giá Pogba bằng định kiến riêng, quan điểm riêng. Quan điểm ấy cần được tuyệt đối tôn trọng, nhưng tin vào nó hoàn toàn thì lại là câu chuyện khác.

Là một cầu thủ chuyên nghiệp ở đẳng cấp thi đấu cao nhất thế giới bóng đá hiện nay, việc hiểu và đáp ứng kỷ luật chiến thuật của HLV là điều tiên quyết. Nếu không có tính kỷ luật để chơi trong một hệ thống, chắc chắn Pogba sẽ bị đào thải. Có thể, ở Man United anh là cầu thủ mang tính tài sản nên việc đào thải anh hơi khó song dưới tay của Deschamps ở Les Bleus, việc đào thải là hoàn toàn có thể bởi Pháp không thiếu tiền vệ trung tâm giỏi. Deschamps tin dùng Pogba, và dùng tốt Pogba vì đẳng cấp của anh. Mà đẳng cấp đó không nằm ở kỹ năng, khả năng của riêng anh mà nó còn nằm ở ý thức tuân thủ. Hơn nữa, thời gian thành danh của Pogba là ở Ý, môi trường bóng đá đề cao tính kỷ luật chiến thuật bậc nhất. Vậy thì chẳng có lý do gì để nói Pogba không phù hợp với 4-2-3-1 hay không phù hợp với vai trò phòng ngự. Ở World Cup 2018, Pháp đá thực dụng và Pogba buộc phải chơi thấp rất nhiều trận. Và anh đã cùng đội tuyển của mình nâng cao Cúp vàng. Đó là câu trả lời xác thực nhất không gì có thể phủ nhận được.

Vậy thì tại sao Mourinho không dùng anh được tốt như Deschamps? Lẽ nào Mourinho kém tài HLV người Pháp. Deschamps giỏi nhưng không thể vươn tới đẳng cấp của Mourinho. Nói gì thì nói, họ đã đấu với nhau 1 trận chung kết cuộc đời, mà kẻ thắng trận đó sẽ thành ngôi sao. Và Mourinho đã thắng, để Deschamps phải mất 14 năm sau mới có thể thực sự được vinh danh.

688-4231pattern1

688-4231pattern13D

Vấn đề của Mourinho chính là hàng tiền vệ Man United không hề có những người có thể chơi hỗ trợ Pogba thật tốt, ít ra là như Juve ngày xưa với Pirlo, Marchisio, Vidal. Với những cái tên Fred, Herrera, Pereira, Fellaini, McTominay, Matic, hàng tiền vệ của Man United thực sự dư thừa quân số nhưng lại vẫn thiếu ở chỗ cần thiếu. Đặc biệt, để nó phù hợp với triết lý của Mourinho, nó lại càng thiếu hơn nữa.

6610-4231pattern1

6610-4231pattern13D

Trước tiên, hãy xác định trung tâm hàng tiền vệ của đội hình 4-2-3-1 bao gồm những nhân tố nào? Đừng vội nghĩ nó chỉ là 2 cầu thủ trong con số “2” của 4-2-3-1. Nó chính là một biến thể khác của hàng tiền vệ trung tâm 3 người mà trong đó, có 1 người chơi cao hơn, ở khu vực tuyến đệm (between the lines) giữa hàng tiền vệ và hàng công. Và để bố trí hàng tiền vệ trong 4-2-3-1, người ta có vài cách cơ bản. Thứ nhất, đó là hàng tiền vệ gồm 2 cầu thủ chơi số 6 kết hợp với 1 cầu thủ chơi số 10. Thứ hai, đó là hàng tiền vệ gồm 2 cầu thủ chơi số 8 kết hợp với 1 cầu thủ chơi số 6. Thứ ba, đó là hàng tiền vệ gồm 1 cầu thủ chơi số 6, một cầu thủ chơi số 8 và 1 cầu thủ chơi số 10. Và cuối cùng, đó là hàng tiền vệ với 1 cầu thủ số 6 chơi kết hợp với 2 cầu thủ chơi số 10. Nhưng điểm khác biệt của chúng so với sơ đồ 3 tiền vệ truyền thống chính là khả năng xoay chuyển vị trí lẫn nhau giữa các cầu thủ tiền vệ (xem các hình minh hoạ). Điển hình, trong sơ đồ 2 số 6 chẳng hạn, cầu thủ chơi số 10 phải tuỳ tình huống mà luân chuyển về chơi lấp vị trí số 6 và ngược lại, cầu thủ số 6 cũng phải biết cách để chơi số 10 khi hoán đổi vị trí với đồng đội của mình. Các luân chuyển này đặc biệt hữu hiệu khi đội bóng đang trong giai đoạn tổ chức lối chơi, với những đường dàn xếp để đưa bóng từ biên bên này qua biên đối diện.

6610-4231pattern2

 

6610-4231pattern23D

Với riêng Mourinho, nếu chúng ta xem lại lịch sử thành công của ông, đặc biệt là ở Inter Milan (xem sơ đồ Milan trận chung kết Champions League 2010) và ở Chelsea thời kỳ đầu (xem sơ đồ trận Chelsea gặp Tottenham ngày 12/03/2007). Mourinho có xu hướng sử dụng sơ đồ 2 số 6 kết hợp với 1 số 10. Cụ thể, ở Inter, 2 số 6 của ông chính là Cambiasso và Zanetti còn số 10 là Sneijder. Còn ở Chelsea, hai số 6 của ông là Makelele và Essien. Rõ ràng, với lối suy nghĩ thận trọng, không được để thua nếu muốn chiến thắng và bóp nghẹt không gian tổ chức lối chơi của đối thủ, Mourinho luôn chú trọng đến 2 tiền vệ trung tâm nặng tính chiến đấu. Và mỗi khi ông buộc phải tuân theo một triết lý cởi mở hơn, như ở Real chẳng hạn, và buộc phải lựa chọn cấu trúc trung tâm hàng tiền vệ chỉ có 1 số 6, Mourinho không mang lại thành công như mong đợi. Nên nhớ, ở Real, thành công phải là vô địch Champions League và thắng El Clasico chứ không chỉ là vô địch La Liga.

Chelsea20607

Inter2010

Ở Chelsea giai đoạn thứ 2 của mình, Mourinho may mắn có được cặp Fabregas – Matic, một bộ đôi bổ sung cho nhau rất tốt. Phải thừa nhận, những năm tháng chinh chiến ở bên cạnh Vieira rồi sau đó là cạnh tranh vị trí khốc liệt ở Barca, với tư tuởng sẵn sàng thi đấu ở bất kỳ vị trí nào trên hàng tiền vệ đã giúp Fabregas không chỉ là một chân chuyền mà còn là một chiến binh thực thụ. Đó là lý do tại sao Matic ở Chelsea chơi tốt như thế còn sang Man United thì không. Và nói trắng ra, Mourinho sa lầy ở trung tâm hàng tiền vệ Man United lúc này cũng chỉ vì tại đó không có 1 ai chơi số 6 xuất sắc cả. Và khi không có 1 số 6 xuất sắc, việc một số 10 như Pogba có giỏi đến mấy trong khả năng luân chuyển vị trí để lấp vào vai số 6 ở những thời khắc cần có trên sân thì cũng chỉ là vô nghĩa. Lối chơi của Man United thiếu sức sống cũng chỉ vì nền tảng của đội bóng, tức tuyến giữa, không phải là một nền tảng đủ sức cạnh tranh với 5 đội bóng còn lại của nhóm “big six” Premier League.

6810-4231pattern1

6810-4231pattern13D

Nếu nhìn vào quân số tiền vệ Man United, hẳn nhiều HLV sẽ giật mình. Họ có một Fellaini chơi số 8 hoặc số 10 rất phù hợp, một Herrera vẫn luôn mơ về số 10 và thần tượng Paul Scholes, một Fred, Matic, Peirera hoàn toàn là 1 số 8 đơn thuần. Vậy thì cách gì để Mourinho có thể xây dựng công thức yêu thích “hai Sáu một Mười” của ông đây? Nói đến đây, tự nhiên chúng ta nhớ Mourinho từng nói ngày xưa rằng không thể có omlette ngon nếu không có trứng loại 1 hay chẳng thể đi săn với một chú mèo.

Và cũng trong vũng lầy của hàng tiền vệ như thế, chuyện bực nhau qua lại giữa Mourinho với Pogba cũng là dễ hiểu. Họ cùng 1 kỳ vọng nhưng cách diễn giải khi thất vọng lại hơi khác nhau. Họ là những người đàn ông nên không có chuyện họ cư xử với nhau nhỏ nhặt tủn mủn. Điều gì sẽ xảy ra nếu Mourinho có Kante, hay Jorginho hoặc Verratti hay chí ít là Torreira của Arsenal? Chắc chắn, chúng ta sẽ thấy Pogba bay thực sự, và Mourinho cười ngạo nghễ như ông luôn vẫn từng.

Tự nhiên, nhìn lên băng ghế huấn luyện của Man United lúc này, chúng ta tiếc Carrick. Giá như anh trẻ lại 7-8 tuổi thôi, Premier League đã khác và Champions League cũng đã khác.

4-2-3-1: MỘT THỜI “TRENDY” VÀ CÂU CHUYỆN CỦA “XUYÊN TUYẾN”

“Đội bóng của Pep Guardiola hôm nay xuất quân với sơ đồ hàng thủ 3 người (back three)”; “Sarri hôm nay sử dụng sơ đồ 4-3-3 khi Chelsea hành quân tới abcd”… Đó là những câu mà chúng ta nghe rất quen trên truyền hình, từ các bình luận viên, hoặc đọc quen trên các nhật báo thể thao, từ các tay bút dự đoán trước các trận đấu. Và dường như mật độ xuất hiện của những “4-3-3” hay “hàng thủ 3 người (back three)” ngày càng dày đặc hơn, khiến chúng ta chợt thoáng nghĩ về 4-2-3-1, đội hình từng là mẫu công thức chung của rất nhiều đội bóng trong suốt những năm dài, đội hình từng được coi là thời thượng. Phải chăng 4-2-3-1 đã bắt đầu lạc hậu, và dần dà bị thay thế bởi những sơ đồ khác, nhất là khi bóng đá ngày càng tiến hoá với tốc độ chóng mặt như ngày hôm nay.

Cũng có thể có một sự nhạt nhòa dần đối với 4-2-3-1 nhưng không thể nào chúng ta phủ nhận rằng nó đã đi vào đời sống bóng đá quen thuộc đến mức nhiều CĐV nhắm mắt cũng có thể đọc được đội hình tối ưu của vài đội bóng cùng lúc trong diện mạo 4-2-3-1 ấy. Và nhất là khi những ngôi sao tấn công biên với hình mẫu tiêu biểu như Cristiano Ronaldo vẫn đang chiếm đa số trong số các cầu thủ tấn công đương đại, chúng ta càng cảm thấy 4-2-3-1 gắn bó đến mức nào. Vậy thì có hay không sự “thoái trào” của 4-2-3-1 khi bắt đầu có nhiều đội bóng từ bỏ nó để chơi 4-3-3, 3-4-3? Và có bao giờ chúng ta tự hỏi, 4-2-3-1 bắt đầu từ đâu, nó để lại di sản lớn lao nhường nào cho thế giới bóng đá hôm nay hay không?

Rất nhiều tài liệu đã cố gắng diễn giải cội nguồn của 4-2-3-1 và với quá nhiều luồng dữ kiện như thế, chúng ta như lạc vào một mê cung không có lối ra. Và thực tế, để ghi tên một ai đó là người xứng đáng với cái gọi là “cha đẻ” hay “người phát triển” 4-2-3-1 là điều bất khả. Nói như kiếm hiệp, sơ đồ trong bóng đá chẳng khác gì chiêu thức cả. Nhưng khi tỷ võ, chẳng ai lại múa nguyên một bài quyền với đầy đủ các chiêu thức của nó cả. Người ta sẽ phải biến chiêu, biết dùng chiêu thức nào để đối lại chiêu thức nào. Và bóng đá là tình thế. Bởi vậy, xuất phát với sơ đồ nào là một chuyện, ứng biến với đối thủ theo tình thế lại là chuyện khác. Cái đó gọi là “mạch trận đấu” (match flow) và chính sự biến chuyển trong mạch trận đấu ấy, sơ đồ nào có quân bình thời gian nhiều nhất chính là sơ đồ mà đội bóng áp dụng cho trận cầu, chứ không phải cái cách sắp xếp như truyền hình vẽ ra trước mỗi trận cầu.

Chính vì thế, một đội bóng xuất phát 4-3-3 hay 3-4-3 hoàn toàn có thể vẫn chơi 4-2-3-1 trong tổng thể thời gian trận cầu của họ, tùy thuộc theo tính linh hoạt của cầu thủ. Cái đó gọi là positional play, lối chơi linh hoạt vị trí, xuất phát từ triết lý bóng đá dùng sự áp đảo quân số ở một khu vực để chiếm ưu thế trước đối thủ (overload). Triết lý này chính là may mắn của bóng đá hiện đại khi nó tạo ra một áp lực đòi hỏi các cầu thủ phải đa dạng hơn, linh hoạt hơn, có thể chơi nhiều vị trí khác nhau và quan trọng nhất, biết tuân thủ kế hoạch mà HLV đã đề ra (match plan) cũng như những điều chỉnh cấp kỳ mà HLV ra dấu hiệu từ đường biên.

Screen Shot 2018-11-01 at 4.51.45 PM

Quay trở lại với 4-2-3-1, nó cũng phát xuất từ chính những sự điều chỉnh linh hoạt như thế. Có nhiều người ghi công HLV Javier Irureta (Deportivo La Coruna) hay John Toshack (Real Madrid) thời cuối thập niên 1990s đầu thập niên 2000s vì việc phát triển và sáng tạo 4-2-3-1. Có người thậm chí còn lùi lại sâu hơn trong lịch sử để bảo vệ quan điểm HLV Juanma Lillo người TBN mới là cha đẻ của 4-2-3-1. Nhưng khi xem lại những trận cầu của Brazil rực rỡ thời kỳ 1970, năm họ đăng quang ở World Cup, nguời ta mới giật mình nhận ra rằng chính sự di chuyển linh hoạt của Tostao, người đá cặp với Pele, đã tạo ra những khoảnh khắc 4-2-3-1 cho Selecao của Mario Zagallo. Lúc ấy, Zagallo có nhận ra ông đang tạo ra một cuộc cách mạng về sơ đồ chiến thuật hay không, chỉ có Chúa mới biết. Nhưng rõ ràng, con cáo già trên ghế huấn luyện của túc cầu thế giới đã muốn Tostao phải chơi linh hoạt hơn, khoét sâu vào vùng đệm (between the lines) giữa hàng thủ với hàng tiền vệ đối thủ. Và để đối đầu với một selecao biến ảo như thế, người Ý của Valcareggi đã dùng Bertini án ngữ trước mặt bộ tứ vệ, làm cầu nối với hàng tiền vệ. Nhưng tài năng xuất chúng của thế hệ vàng Brazil đã không cho phép Azzurri chống đỡ nổi dù ý niệm của Valcareggi là cực xuất sắc. Cũng chính ở cái vùng đệm (between the lines) mà Zagallo muốn dùng cầu thủ tấn công để khai thác đó, Valcareggi đã dùng 1 cầu thủ để tăng cường phòng ngự từ xa. Và họ, hợp thành với nhau, để tạo nên nền tảng cho sự khai thác, sáng tạo và phát triển 4-2-3-1 trong tương lai sau này: nền tảng từ việc sử dụng cầu thủ hoạt động cầu nối giữa hàng thủ – hàng tiền vệ và hàng tiền vệ – hàng tiền đạo.

Screen Shot 2018-11-01 at 4.52.45 PM

Hãy thử đặt câu hỏi, với 4-2-3-1, nếu quy chiếu về lý thuyết cơ bản của bóng đá là 3 tuyến (phòng ngự – tiền vệ – tấn công) thì tại sao không viết gọn nó thành 4-2-4 hay 4-5-1 cho đỡ dài dòng? Thực chất, viết như thế không lột tả được hết cái khác biệt của sơ đồ này. 4-2-3-1 đã tách tuyến để đưa vùng đệm (between the lines) lên thành một tuyến mới hoàn toàn. Quy ước chung để phân tuyến khi đang chơi bóng là khoảng cách tối thiểu (lines) đủ để coi là hai tuyến riêng biệt phải là 9m15. Như vậy, khoảng cách gần nhất giữa hàng hậu vệ với hàng tấn công ở mức độ cơ bản nhất chấp nhận được là 28,5 mét. Đó là một khoảng cách lý tưởng để hình thành một khối với hình dạng (shape) cụ thể nhằm đáp ứng việc liên lạc với nhau bằng những đường chuyền và hỗ trợ nhau khi đối phương có bóng, nhằm hạn chế khả năng phát động của đối thủ. Và cũng chính từ cách chia tuyến như vậy, rất nhiều đội bóng xuất phát với sơ đồ 4-2-3-1 nhưng thực tế có thể biến hoá thành 4-1-2-2-1 với 1 cầu thủ đánh chặn, kiến thiết lối chơi từ phía dưới (deep lying play maker), 2 tiền vệ trung tâm, 2 cầu thủ tiền vệ tấn công (hoặc tiền đạo cánh, tiền đạo lùi…) và 1 trung phong. Chính việc mở thêm các tuyến như vậy đã khiến các đội bóng tiến tới kiểm soát không gian tốt hơn, hình thành các tam giác linh hoạt hơn rất nhiều. Và đó cũng là khi các đường chuyền “xuyên tuyến” (vertical pass) xuất hiện với vai trò ngày càng quan trọng hơn.

Chúng ta từng nghe rất nhiều về cái gọi là đường chuyền vượt tuyến và mô tả ấy khiến chúng ta rất dễ hình dung về một cú chuyền dài từ hàng thủ hướng tới hàng công. Nhưng xuyên tuyến thì lại hoàn toàn khác. Trong mội đội bóng, khi cầu thủ phát động triển khai cho một cầu thủ tổ chức đợt tấn công, đó được gọi là đường phát động. Và rất lâu rồi, thường cầu thủ tổ chức tấn công là người chơi tiền vệ trung tâm, hoặc chơi số 10. Song, với sự phát triển của bóng đá đa tuyến, cái gọi là đội bóng đa nhân tố tổ chức (multi play makers) cũng hình thành. Người tổ chức tấn công có thể là cầu thủ chơi tiền đạo cánh, có thể là tiền vệ trung tâm và có những lúc, là chính cầu thủ chơi kiến thiết từ phía dưới. Pirlo là một dạng ông trùm của những ông trùm trong cách kiến thiết từ phía dưới. Và chính những cầu thủ như thế đã tạo ra thứ gọi là đường chuyền xuyên tuyến, tức là một đường kiến thiết đợt tấn công bắt nguồn từ cầu thủ ở tuyến đệm phía dưới, hướng thẳng tới cầu thủ ở tuyến đệm phía trên và không cần qua chân tiền vệ tổ chức. Đó phải là đường chuyền không phải bóng bổng, theo trục dọc của sân. Và chính những đường chuyền sát thủ như thế đã ngày càng đề cao vai trò của những cầu thủ chơi ở tuyến đệm hơn nữa, cũng như tạo áp lực đòi hỏi các cầu thủ chơi ở tuyến đệm phải kỹ thuật và thông minh hơn nữa. Nó là lý do vì sao những người chơi ở cùng vị trí với Makelele đã tiến hoá kinh khủng ra sao ở ngày hôm nay và Jorginho của Chelsea chính là một dạng tiền vệ như thế. Và nếu Makelele có được trở lại tuổi 20 thì có lẽ ở thời đại này, anh khó lòng kiếm được một suất ở một CLB lớn như anh đã từng.

Vậy thì cuối cùng, 4-2-3-1 có chết hay không đã rõ. Nó vẫn còn đó, mạnh mẽ, và là nền tảng cho những phát triển về chiến thuật hiện đại. Nó vẫn còn đó, mạnh mẽ, là cái “khung” để sản sinh ra những tiền vệ xuất sắc, những tiền đạo cánh xuất sắc, những “quái thú” khai thác tốt tuyến đệm. Nó vẫn còn đó, mạnh mẽ, là một dấu mốc lịch sử của bóng đá hiện đại, một dấu mốc mà có thể trong tương lai, vẫn sẽ có những đội bóng thành công cùng thứ đang bị lầm tưởng là lỗi thời.

NGÀY MOURINHO TRỞ LẠI STAMFORD BRIDGE: HLV LÀ NGHỀ LÀM “TRANSFORMER”

Mourinho trở lại Stamford Bridge, ở tư thế của một người cận kề thất bại ở Man United, và tư thế ấy sẽ khiến cuộc tái ngộ đội bóng cũ mang nhiều màu sắc xung đột cảm xúc hơn. Bạn có thể lý giải rằng Mourinho đã mang về Old Trafford 3 chiếc cúp (1 Europa League, 1 League Cup và 1 FA Community Shield) nhưng thực sự, 3 danh hiệu ấy chỉ có ý nghĩa với những CLB ở tầm Everton, Newcastle chứ không phải ở vị thế của Man United.

Một điều không ai có thể phủ nhận được chính là Mourinho đã từng là một trong số hiếm người quan trọng nhất góp phần tạo dựng nên một đế chế Chelsea hùng mạnh nhưng lại không đáp ứng được kỳ vọng ngày một được nâng cấp của ông chủ đội bóng. Ai cũng hiểu, Abramovic muốn một Chelsea chơi gợi cảm hơn, chơi tấn công, chơi kiểm soát bóng bởi đó là thứ bóng đá có thể tạo dựng hình ảnh thương hiệu tốt hơn, mang lại nhiều nguồn lợi hơn nữa. Nhưng Mourinho đã không làm được việc ấy, đặc biệt là ở lần thứ hai ông huấn luyện Chelsea, lần mà ông gạt bỏ sự “đặc biệt” của mình để gọi mình là “người hạnh phúc”. Điều mỉa mai lớn nhất ở cuộc tái ngộ này của Mourinho với Chelsea nằm ở chỗ Mauricio Sarri đang hình thành một Chelsea như Abramovic mong muốn, và Chelsea ấy lại đang chiến thắng, sau chỉ vẻn vẹn vài tháng cầm quân. Vài tháng của Sarri và cả 6 năm (2 lần) của Mourinho: đó là một so sánh đau lòng.

Ở Man United, Mourinho cũng nhận được kỳ vọng phải đưa đội bóng trở lại con đường chiến thắng, và phải duy trì được đặc tính giải trí của Man United. Nói như Woodward, Old Trafford không chỉ là một nhà hát của những giấc mơ, mà nó còn phải là một công viên Disney phiên bản người lớn, nơi mà những điều diệu kỳ phải xảy ra, đủ để đốn tim những người hâm mộ. Nhưng cho đến mùa bóng thứ ba Mourinho làm việc ở Old Trafford, Man United có gì? Điều diệu kỳ cổ tích không tồn tại; danh hiệu cao qúy vẫn rất xa ở một chốn mơ hồ nào đó. Thứ duy nhất nổi bật lúc này chỉ là một nội bộ có vấn đề, thứ “đặc sản mùa thứ ba” mà gần như mỗi nơi Mourinho tới ông đều sẽ mang theo.

Và chúng ta đã bắt đầu quay trở lại với câu hỏi xưa cũ “Mourinho có phù hợp với Man United hay không?”, như một kiến giải riêng cho sự thất vọng đang tồn tại ở “đội bóng thiên đường” của Premier League. Nhưng có lẽ, chúng ta cần phải dẹp câu hỏi cũ rích ấy sang một bên, để nhìn vào vấn đề thực sự của nó. Đó là tài năng của Mourinho và thứ gì đã cản trở tài năng ấy của ông mang lại thành công mong đợi cho Man United.

Chúng ta không thể nào chỉ nhìn vào những gì đang xảy ra tại Man United để nói rằng Mourinho không có tài. Thực tế, ở giai đoạn kể từ đầu thế kỷ 21 tới nay, Mourinho là một trong số hiếm hoi (dưới 5 đầu ngón tay) HLV được coi là tài năng bậc nhất, có khả năng góp phần định hình bóng đá đương đại. Nhưng rào cản sự thăng hoa của tài năng đó lại nằm ở chính cái tôi quá lớn của ông, một cái tôi sắt đá, một cái tôi kiên định đến thủ cựu. Nói một cách khác, Mourinho không chịu “biến hình”, không chấp nhận làm một “transformer” để kiếm tìm vinh quang trong mạo hiểm. Và để nói về sự biến hình ấy, có lẽ Mourinho nên nhìn vào câu chuyện của người ông rất kính trọng (và ngược lại cũng vô cùng tôn trọng ông) là sir Alex Ferguson. Chính Ferguson mới là HLV biến hình tài tình nhất và chỉ có sự biến hình tài tình ấy mới khiến Ferguson mang lại cả một giai đoạn hào hùng cho Man United.

Những năm tháng đầu tiên Ferguson làm việc ở Premier League, bóng đá Anh còn vô cùng “cổ điển” và nghèo nàn trong chiến thuật, với sự cứng nhắc, bảo thủ và cao ngạo của người Anh. Ngày ấy, đúng nghĩa là bóng đá “kick and rush” thống trị Premier League, với sơ đồ 4-4-2 cứng nhắc. Sự đồng dạng đến đơn điệu của các CLB Anh đã được lấp liếm đi bởi sức mạnh, tốc độ và nhiệt tâm của các cầu thủ, khiến người xem nghĩ rằng đó chính là giải đấu hấp dẫn và cống hiến nhất. Nhưng khi bước chân ra châu Âu thì sao nhỉ? Bóng đá Anh đúng nghĩa như những con cừu non trước người Đức, người Ý và người TBN. Và Ferguson là một trong những người ý thức được sự thua kém ấy cần phải được khắc phục. Chính ông đã thừa nhận sau khi đã có 3 chức vô địch Premier League (vào năm 1996) rằng “nếu không vô địch Champions League, thành tựu của tôi ở Premier League cũng chỉ là vô nghĩa”.

Thực tế, đến thời điểm 1996 ấy, Ferguson đã thực hiện việc “biến hình” khá nhiều ở Man United rồi. Với sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh mang tên Arsene Wenger, Ferguson bắt đầu sử dụng những cầu thủ kỹ thuật, chơi sáng tạo và hoạt động thường xuyên ở vùng giáp ranh tuyến tiền vệ và tuyến tiền đạo (between the lines-tạm dịch là tuyến đệm) để tạo ra sự khác biệt giữa Man United và phần còn lại của Premier League. Điển hình của mẫu cầu thủ hoạt động ở tuyến đệm này chính là Eric Cantona, người mà Ferguson đã quả quyết phải mua bằng được sau khi chứng kiến phong độ và lối chơi của anh ở Leeds. Ttrong khi đó, đối trọng của Fergie, Arsene Wenger, đã sử dụng Denis Bergkamp như một tiền đạo lùi khai thác hữu hiệu không gian tuyến đệm. Chính sự biến hình ấy so với phần còn lại của Premier League đã khiến Man United và Arsenal là hai đội bóng thống trị suốt thời gian cuối thập niên 90s ở Premier League. Song, như ta đã nhắc tới ở trên, Premier League là chưa đủ với Fergie và Eric Cantona cũng chưa đủ sức để mang lại khác biệt cho Man United tại đấu trường khắc nghiệt đó.

Chức vô địch Champions League 1999 của Man United không có mặt Cantona và có thể có nhiều người sẽ nói Man United có chút ít may mắn khi ở trận chung kết Hitzfeld đã có những sai lầm trong việc thay người. Song, thực chất, chẳng may mắn nào đi theo bạn suốt cả mùa giải cả, và xuất hiện trong tất cả các trận cầu khó khăn nhất. Vả lại, việc thay người của Hitzfeld cũng không sai lầm, mà điển hình là chuyện thay Mattheaus. Chính huyền thoại người Đức sau này phải thừa nhận anh bị đau và không còn đủ sức để gánh tiếp phần còn lại chứ không phải Hitzfeld quyết định chủ quan. Và trong chức vô địch đó của Man United, sự biến hình của Fergie cũng xuất hiện khi ông xây dựng đội bóng với những lựa chọn sáng giá ở giai đoạn không-Cantona.

Sheringham, người thay chân Cantona, không trẻ hơn Cantona nhưng là một bổ sung rất sáng cho hàng công vốn đã rất mạnh của Fergie. Ít ai nghĩ rằng Cole và Yorke, những người có lối chơi tương đồng nhau, lại có thể thành một cặp đẹp đến như thế. Trước khi Yorke tới, nhiều người chỉ nghĩ anh sẽ là dự bị cho Cole và Cole sẽ đá cặp với Sheringham. Nhận định ấy không sai, bởi lối đá và vị trí của Yorke trùng hợp với Cole. Và khi Fergie để họ đá cặp lần đầu, không ít người nghi ngại đó sẽ là quyết định thảm hoạ, khi Fergie đưa Man United trở lại với 4-4-2 “hồng hoang” cùng 2 trung phong chơi trên cùng một hàng ngang và chỉ kỳ vọng vào những quả tạt của Beckham mà thôi.

Đúng là những quả tạt của Beckham đã góp phần đưa Man United đi tới cú ăn ba kia. Song 4-4-2 của Fergie mùa giải ấy không “hồng hoang” chút nào. Như một run rủi của số phận, Cole và Yorke rất biết “nhường nhau mà đá”, “nhìn nhau mà đá” và họ tương tác tuyệt vời để khai thác cực tốt cái tuyến đệm vô cùng quan trọng kia. Sẽ còn rất lâu nữa mới có thể xuất hiện một cặp tiền đạo ăn ý như thế, và cái ăn ý của họ không chỉ nằm ở phối hợp khi có bóng đơn thuần mà chủ yếu nằm ở việc di chuyển, chọn vị trí làm sao để hỗ trợ được cho nhau tốt nhất. Có thể nói, Ferguson đã khiến tất cả phải bất ngờ. Và nếu bây giờ phải trả lời câu hỏi “ở mùa giải 1998/99, Cole hay Yorke ai là trung phong, ai là tiền đạo lùi?”, chúng ta có thể chịu chết. Không có sự phân công cố định nào cho họ, mà họ phải tương tác với nhau, theo mạch của trận cầu (match flow). Tuyệt vời hơn nữa, sau lưng họ Ferguson có hàng tiền vệ lý tưởng vô cùng về nhiệm vụ với một người dắt bóng (dribber) là Giggs, một người chuyền bóng (passer) là Scholes, một người tranh chấp bóng (tackler) là Keane và một người tạt bóng (crosser) là Beckham.

Sau thành công của năm 1999, Ferguson bắt đầu tăng tốc hơn nữa về việc “biến hình” để tiệm cận với từng thay đổi đến chóng mặt của bóng đá hiện đại. Đối thủ của ông, Wenger, cũng có những thay đổi nhưng chủ yếu chú trọng nhiều vào sơ đồ chiến thuật hơn. Wenger nghĩ rằng việc tạo dựng 1 Arsenal chơi kiểm soát bóng (possesion) đã tựu thành, và sự biến hình bây giờ chỉ là khâu nhân sự và sơ đồ mà thôi. Và sự biến hình của Ferguson càng phải tăng tốc hơn khi Premier League xuất hiện Mourinho, một nhân vật dị thường với triết lý mới mẻ vô cùng, một món “nhập khẩu” tinh tế từ lục địa với chức vô địch Champions League cùng Porto làm của lận lưng. Quả thật, Mourinho đã làm Ferguson đã phải e ngại vô cùng. Mourinho đã biến Premier League thành một giải đấu khác hẳn. Ông ta xoá bỏ hoàn toàn Chelsea cũ kỹ, cổ điển, chơi “sên sến” mà không hiệu quả để xây dựng nó thành một cỗ máy hủy diệt. Để rồi từ chính cỗ máy ấy, các đội bóng khác bắt đầu rục rịch thay đổi theo chiều hướng “hoặc là tìm cách để không thua nó, hoặc là tìm cách học hỏi từ nó”.

Trước tình thế đó, Ferguson có những biến hình có thể nói là vĩ đại nhất trong sự nghiệp của ông. Rất tiếc là thành tựu của biến hình ấy lại xảy ra ở chính mùa bóng Mourinho bị sa thải, và thành tựu tối thượng của mọi nỗ lực biến hình kia lại nằm ở trận chung kết Champions League 2008 tại Moscow. Nếu lục lại sơ đồ của Man United ở trận chung kết đó, chúng ta sẽ thấy mỗi nơi một phách. Sơ đồ xuất phát thì là 4-4-2, với Tevez – Rooney đá cặp với nhau. Còn sơ đồ “hành động” theo mạch trận thì lại được ghi là 4-3-3 với Ronaldo chơi trên hàng tiền đạo. Nhưng nếu nhìn vào cả mùa bóng, chúng ta sẽ nhận ra rằng Ferguson tinh vi đến mức độ nào. Ông để Man United chơi 4-6-0 ở những tình huống Man United mất bóng, hoặc mới bắt đầu phát động. Nhưng khi vận hành vào tình huống tấn công cụ thể, họ có thể là 4-3-2-1, 4-3-3 hay 4-2-3-1 tùy theo tình thế trên sân. Và điều đáng kinh ngạc nhất ở ông chính là cách sử dụng Rooney cùng Tevez. Cầm trong tay hai tiền đạo xuất sắc bậc nhất lúc bấy giờ, ông giao nhiệm vụ của họ chủ yếu là di chuyển, tham gia vào lối chơi để tạo mọi điều kiện cho Ronaldo lên ngôi. Cụ thể, Rooney di chuyển nhiều theo trục dọc, tạo thành mối nối hữu hiệu giữa hàng tiền vệ và tuyến tấn công. Trong khi đó, Tevez di chuyển rộng, theo chiều ngang, kéo giãn hệ thống phòng ngự của đối thủ, để lộ ra những khoảng trống cho đồng đội thâm nhập. Kết quả: Ronaldo lần đầu tiên ghi tới 42 bàn trong một mùa giải và Man United thắng cả danh hiệu lẫn cuộc làm giá với Real sau này.

Screen Shot 2018-10-19 at 11.09.02 AM

Điều gì sẽ xảy ra nếu Ferguson cũng là một con người bảo thủ đến lì lợm và không chịu thay đổi cái tôi của mình? Rất có thể Man United sẽ không thể tiếp nối được thành công ở thế kỷ 21 này và ông cũng sẽ phải rời Old Trafford từ sớm hơn ngày giải nghệ rất nhiều. Nhưng Ferguson lại chọn lựa cách khác. Ông biến hình. Ông thấu hiểu rằng bóng đá cải cách chính nó mỗi ngày và nếu người HLV không là một “transformer” đúng nghĩa, ông ta sẽ thất bại trước tương lai trong nỗi ẩn ức rằng “ơ kìa, quá khứ tôi từng lẫy lừng thế kia mà”.

Câu chuyện biến hình của Ferguson ở từng giai đoạn làm việc cho Man United thật ra còn nhiều, rất nhiều và ở trên chỉ là những điển hình nổi bật mà thôi. Còn bây giờ, nó là việc của Mourinho. Mourinho có chịu biến hình hay không, hay ông chỉ cố gắng bắt đội bóng phải biến hình để phù hợp triết lý của mình? Sai lầm của Mourinho có thể nằm ở cái tôi quá lớn ấy. Tài năng của Mourinho là thượng thừa và đừng vì chuyện ông lựa chọn lối chơi kiểm soát thế trận, kiểm soát đối thủ mà chúng ta nghĩ rằng ông không biết cách tạo dựng một đội bóng chơi kiểm soát bóng. Ông thừa kiến thức, kinh nghiệm để tạo dựng một đội bóng chơi kiểm soát bóng nhưng dường như ông không thích lối chơi ấy thì đúng hơn. Phải chăng, ông không muốn bị so sánh với Pep Guardiola, thậm chí bị cho rằng học đòi theo Guardiola? Hay là ông vẫn còn giữ sự thù ghét Barca tới đỉnh điểm, thù ghét tới mức quyết chí không bao giờ để đội bóng của mình chơi cùng 1 triết lý như nó? Nhưng có vẻ, là một người chú trọng kết qủa, ông không phải một kẻ dám mạo hiểm thay đổi mình? Với ông, công thức đã mang lại cho ông chiến thắng là công thức an toàn, và ông không muốn thoát ra khỏi vùng an toàn ấy.

Song, có lẽ đã đến lúc Mourinho cần hiểu nghề HLV (cũng như nhiều nghề khác) là phải cập nhật mình, phải thay đổi, phải biến hình, nhất là ở thời đại công nghệ cao này. Sau trận thua Tottenham, ông đưa 3 ngón tay lên, và nói trước báo giới “thấy gì không? 3. Chúng tôi để thua  3 bàn. Nhưng 3 cũng là số lần vô địch Premier League của tôi. Còn tất cả bọn họ (19 HLV còn lại) mới chỉ vô địch có 2 lần thôi. Thế nhé”. Ông vẫn là ông. Kiêu ngạo, biết tạo tranh luận, biết trở thành điểm nóng thu hút áp lực thay cho cầu thủ. Nhưng ông cũng nên hiểu rằng, giới chủ bóng đá hôm nay sẽ không ngồi đếm danh hiệu quá khứ của ông. Thay vào đó, họ đếm danh hiệu sẽ có trong tương lai của họ và đồng thời đếm lại các tỷ lệ thống kê đội bóng có được sau mỗi trận cầu. Mà ở tỷ lệ thống kê, rất buồn, Man United đang vô cùng thiếu thuyết phục.

JOSE MOURINHO: NOWHERE MAN GIỮA OLD TRAFFORD 

 

Trận thua West Ham như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tính tự ái của Mourinho. Ông vừa tỏ ra rất cứng rắn trong cuộc chiến với Paul Pogba hồi giữa tuần, và ông rất cần một kết quả khả quan để chứng minh rằng quyết định của mình là đúng. Nhưng cuối cùng, thứ ông kỳ vọng lại không xảy ra. Giá như có một chiến thắng, chắc chắn sẽ có nhiều người hơn đứng về phía ông. Dễ hiểu, con người ta dễ bị khuất phục bởi kết qủa khả quan mà họ vốn dĩ đã mong đợi.

Lập tức, báo chí lá cải lại xới tung chuyện lên. Bắt đầu từ Mirror, với thông tin đại ý rằng Pogba sắp sửa “bung bom” với quyết định sẽ không chơi bóng cho Mourinho nữa. Chưa thấy Pogba có tuyên bố nào thì đã thấy những thông tin bất lợi cho Mourinho mà điển hình nhất là tin ông “sạc” cho Sanchez một trận trước cả đội và rút anh khỏi danh sách thi đấu ở những phút cuối cùng khi Man United chuẩn bị ra sân trước West Ham.

Nói chung, lá cải thì vẫn luôn là lá cải, nhất là ở thời đại fake news tinh vi như hiện nay. Chuyện Mourinho với Pogba có thể coi như kiểu hai ông hàng xóm đang có tranh cãi với nhau trong khi đó, vây quanh họ, báo chí lá cải rất giống đám đông quần chúng kích động đổ thêm dầu vào lửa để mong chứng kiến họ thượng cẳng chân hạ cẳng tay chứ không chỉ đấu võ mồm đơn thuần.

Nhưng có một thứ liên quan đến Mourinho mà chúng ta không thể không quan tâm. Đó chính là việc ông có định hướng nào hay không cho Man United lúc này. Dường như ông đang loay hoay không tìm được một lối thoát khả dĩ nào, đặc biệt là khi ông đã làm việc ở Old Trafford đến mùa thứ 3 mà chưa hề đưa Man United trở lại ngôi vô địch Premier League được lần nào.

Hãy thử nghe lại những gì ông nói trước báo giới Anh quốc hồi khởi đầu mùa giải 2017/18. Khi ấy, ông được hỏi rằng “ông thấy thế nào về đòi hỏi chơi thứ bóng đá hấp dẫn, gợi cảm và tấn công của những CĐV Man United?”. Và ông trả lời rất khôn ngoan rằng “Chúng tôi sẽ chơi tốt nhất trong khả năng có thể của mình”. Song, sau đó vài giây, ông nói luôn “Nếu nhìn lại đội bóng mới vừa vô địch Premier League mùa trước (Chelsea của Conte), bạn sẽ thấy họ chẳng buồn chơi bóng đá tấn công. Họ phòng ngự và phản công. Và căn cứ theo kết quả ấy, đó là cách để vô địch Premier League”.

Vậy thì mùa 2017/18 Man United chơi thứ bóng đá gì? Dám chắc rất nhiều CĐV Man United thậm chí còn không nhận diện được đội bóng của mình. Ở mùa ấy, Lukaku là bản hợp đồng rất đắt giá, bản hợp đồng nhiều người cho rằng Mourinho đã nẫng tay trên của Conte. Nhưng kết cục Man United có được gì? Họ về nhì, thua Man City 19 điểm và đáng buồn là họ ghi số bàn thắng ít nhất trong các đội top 4 (68 bàn). Còn phòng ngự ư, số bàn thua của họ thuộc diện ít (28 bàn) nhưng nó vẫn nhiều hơn nhà vô địch Man City 1 bàn. Mà Man City của Pep Guardiola lại không chơi phòng ngự và phản công. Tất nhiên, với triết lý chơi kiểm soát bóng của Pep, đối thủ khó có cơ hội cầm bóng mà tấn công lại họ là chuyện đương nhiên. Nhưng những con số ấy thì chống lại Mourinho, bởi đơn giản, ông không có danh hiệu.

MU Leicester 1

Hôm nay, sau trận thua West Ham, Mourinho nói gì? Đội bóng của ông công không ra dáng công, thủ cũng không chắc chắn như một chuyên gia tử thủ. Và ông lý giải “Nghe này, bao nhiêu tháng nay người hâm mộ cứ đòi hỏi Martial và cho rằng Alexis chơi không tốt. Và vì thế tôi chọn Martial và gạt Sanchez. Và Martial là một cầu thủ rất rất thiếu tập trung hỗ trợ phòng ngự, nên bởi thế, tôi cho anh ta chơi tiền đạo thứ (second striker)”. 

MU Westham 7

Ồ, Mourinho sắt đá đã đi đâu mất rồi? Tại sao Mourinho lại phải thỏa hiệp với người hâm mộ trong việc lựa chọn đội hình? Một HLV ngôi sao từng thắng rất nhiều ngôi sao của các CLB lớn trong các cuộc chiến mà lại phải thỏa hiệp với người hâm mộ chỉ vì một ngôi sao nho nhỏ như Martial ư? Rõ ràng, đó không phải là một Mourinho mà chúng ta từng biết.

Song thực chất, rất có thể không phải Mourinho thỏa hiệp vì áp lực nào đó mà ngược lại, ông đang loay hoay kiếm tìm con đường để đưa Man United trở lại đúng với bản chất của một đội bóng hấp dẫn nhưng có khả năng chinh phục danh hiệu. Sự loay hoay ấy thể hiện ở chỗ, 7 vòng đấu vừa qua, Mourinho không hề sử dụng một đội hình ổn định nào. Ông thay đổi xoành xoạch, thậm chí có trận ông còn có tới 6 thay đổi về nhân sự cộng thêm 1 thay đổi về sơ đồ chiến thuật. Và buồn thay, đó là trận thua sấp mặt trước Tottenham, đối thủ vốn dĩ là ưa thích của Man United trong lịch sử.

MU Tot 3

Xoay tua đội hình là chuyện bình thường của các HLV nhưng cách Mourinho đang làm không phải là xoay tua. Bản thân hạt nhân quan trọng của trung tâm hàng tiền vệ ông cũng chưa xây dựng nổi. Cặp Fred-Pogba lẽ ra phải chơi với nhau nhiều hơn để hiểu nhau thêm thì họ mới chỉ chơi cùng nhau được có 4 trận sau 7 vòng. Và nhìn rộng ra hàng tiền vệ của Man United thì chúng ta sẽ nhận thấy nó hoàn toàn không hề ổn định (xem các hình minh hoạ). Như vậy, rõ ràng Mourinho chưa hề định hình được trong đầu Man United sẽ chơi với hàng tiền vệ như thế nào, với nhân sự chủ chốt là những ai chứ đừng nói vội ông đã có kế hoạch gì cho một đội bóng có thể chơi tấn công mãn nhãn.

MU Brighton 2

Và giả sử, nếu hôm nay đang là mùa đầu tiên của Mourinho ở Man United thì chúng ta có thể thông cảm cho sự chưa định hình này. Nhưng không, đây là mùa thứ 3, và cũng là mùa thứ 3 của Pogba, Bailly ở Old Trafford. Trong 3 mùa Mourinho làm việc ở đây, ông mang về toàn thứ đắt tiền: Pogba, Bailly, Lindelof, Lukaku, Sanchez, Matic… Nhưng cuối cùng ông đã đền đáp lại cho CLB những gì? Ngoài chiếc cúp Europa League Hè 2017 ra, tất cả chỉ còn là một mớ hỗn độn. Mỉa mai thay, ông chỉ trích Pogba nhưng cầu thủ ấy ghi bàn mở tỷ số trận chung kết mang lại danh hiệu duy nhất cho ông ở Man United đến lúc này. Còn Mkhitaryan, người ấn định tỷ số ở trận chung kết ấy thì nay đã sang Arsenal, để đổi lại một Sanchez từ tháng 3 tới nay chưa ghi nổi bàn nào cho Man United.

MU Burnley 4

Có nhiều người, thậm chí là cả các cựu ngôi sao bóng đá (như Ferdinand), đã chỉ trích Pogba nói riêng và các cầu thủ Man United khác nói chung rằng họ thiếu nỗ lực và họ phải coi công việc là công việc, bóng đá là bóng đá (biz is biz and football is football). Đúng, chúng ta cũng đòi hỏi cầu thủ phải nỗ lực nhưng chúng ta quên mất rằng cuộc chiến nào cũng rất cần tinh thần. Mà khi không khí giữa con người với con người trong 1 tập thể trở nên nặng nề, không có ai có thể nói là đủ bản lĩnh, đủ tinh thần để nỗ lực 110%. Tất cả tuyên bố chỉ là sáo rỗng hết. Và sự uể oải ở Man United không chỉ một mình Pogba thể hiện mà gần như là cả đội. 

MU Watford 5

Chúng ta có thể hiểu, vấn đề nằm ở Mourinho không phải chỉ bởi cá tính quá mạnh của ông đơn thuần mà nó chính là cái gốc triết lý của ông không thể phù hợp với bóng đá tấn công. Nếu phù hợp, có lẽ ông đã không rời khỏi Barcelona ngay từ thời trẻ. Và câu chuyện cư xử giữa con người với nhau, chắc chúng ta chưa quên cái cách Anthony Martial bị tước chiếc áo số 9 yêu thích của mình khi Mourinho đến Old Trafford cùng Ibra. Vậy thì liệu có thể mong đợi được gì nhiều về một viễn cảnh bóng đá cống hiến ở một HLV cực tài ba nhưng lại không giỏi về bóng đá tấn công, thậm chí chống lại bóng đá tấn công, và khá xem nhẹ những cầu thủ tấn công?

MU Wolves 6

Có thể nói, Mourinho đã sa lầy ở Old Trafford vì một bản hợp đồng quá lớn, một bản hợp đồng mang tính thế kỷ. Ông nghĩ mình có thể tạo ra một đế chế Man United khác, dư sức giành những danh hiệu để người ta không áp đặt ông phải làm được những gì như Ferguson đã làm. Nhưng rốt cuộc, khi đứng trước đòi hỏi phải “tấn công, tấn công, tấn công”, Mourinho lúng túng như thể một “nowhere man” ngồi giữa một vùng đất chẳng ở đâu cả và lên một kế hoạch rất không đâu chẳng dành cho bất kỳ ai. (Mượn lời của The Beatles: He’s the real Nowhere man, sitting in his nowhere land, making all his nowhere plan for nobody).

CHELSEA – SARRIBALL CÒN THIẾU NHỮNG GÌ?

 

Không khó để nhìn thấy rằng từ đầu mùa giải tới giờ (tất nhiên chặng đường còn lại vẫn dài lắm để mọi nhận định sớm có thể đổ vỡ bất kỳ lúc nào), 3 ứng cử viên nặng ký nhất cho chức vô địch Premier League chính là Man City, Liverpool và Chelsea. Và trận cầu giữa Chelsea với Liverpool đêm 29/09/2018 vừa rồi xứng đáng là một cuộc chiến tầm vóc của 2 ứng cử viên nặng ký. Có thể nói, đó là trận cống hiến nhất, mãn nhãn nhất từ đầu mùa giải tới nay dù số bàn thắng chỉ là 2 và 1 điểm cho mỗi đội vẫn mang lại nuối tiếc cho chính các CĐV của cả hai bên.

Nhìn vào Liverpool, chúng ta có thể khẳng định họ không còn là một đội bóng “khó-có-thể-đặt-niềm-tin-lâu-dài” như các mùa bóng trước. Họ đã lột xác thực sự khi ở giai đoạn lịch thi đấu căng thẳng như vậy, họ vẫn thắng PSG, thua sít sao Chelsea ở Carabao Cup (một giải Cup không mấy ý nghĩa) và cầm hoà đối thủ ngay tại Stamford Bridge khi tái đấu tại Premier League. Nếu giữa tuần này họ có một kết quả khả quan ở Napoli, có thể nói họ mới là đối thủ đáng gờm nhất cho tất cả những ai có tham vọng ở cả Premier League lẫn Champions League.

Nhưng bài viết này chúng ta không bàn về Liverpool mà tập trung vào Chelsea. Họ đã chơi cực tốt, cực hấp dẫn trước Liverpool dù thực tế họ không thể thắng, và ít nhất có 3 lần thoát chết vì các cầu thủ Liverpool không tận dụng tốt cơ hội. Song, nếu so sánh với chính Chelsea kể từ khi Abramovich đến, chưa bao giờ chúng ta thấy họ chơi gợi cảm (sexy) thế. Cái mà ông chủ người Nga muốn đã tồn tại ở Stamford Bridge, và đang dần hình thành thành một chuỗi DNA của Chelsea: chơi kiểm soát bóng (possession); chơi tấn công trực diện và đa dạng; chơi tiết kiệm động tác bằng cách xử lý kỹ thuật tinh tế. Có lẽ, từ nay trở về sau, Abramovich sẽ chỉ cười và cười và cười mãn nguyện khi nhìn Chelsea trình diễn mà thôi. Đơn giản, nền tảng này nếu được thiết lập, nó sẽ thành thói quen, thành văn hoá và triết lý của Chelsea và những ai kế tục Sarri sau này cũng sẽ phải tuân thủ nó một cách triệt để.

Nhưng hãy trả lời câu hỏi này: “Chơi như thế, Chelsea vô địch được hay không?”.

Câu trả lời “Được” hay “Không được” đều là vội vã ở thời điểm này. Điểm số đang cho thấy Chelsea có khả năng lên ngôi vô địch ở cuối mùa. Lịch sử cho thấy, điểm số “an toàn” để có thể vô địch Premier League là 90 và hiện nay, Chelsea còn thiếu 73 điểm nữa khi vẫn còn 31 vòng đấu. Nhưng nếu tính trung bình số điểm cần phải có mỗi trận (2.35 điểm) để đủ 90 điểm cuối mùa, rõ ràng nhiệm vụ của Chelsea rất khó (tương tự của Man City và Liverpool). Chelsea cần rất nhiều chiến thắng nữa, vì mỗi chiến thắng sẽ để lại dư địa an toàn (số lượng trận mất điểm) cho họ được nới rộng thêm. Mà để chiến thắng, một đội bóng cần gì? Chắc chắn là cần ghi bàn.

Chelsea 1

Nếu nhìn vào lối chơi của Chelsea, chúng ta sẽ thấy cực rõ cả đội bóng đều phải chơi ít chạm (1-2 chạm là cùng), xử lý bóng cực nhanh để duy trì kiểm soát bóng. Duy nhất một cá nhân được quyền tự do cầm bóng là Eden Hazard và lựa chọn đó là đúng. Cơ bản Hazard là cầu thủ có kỹ thuật cá nhân tốt nhất ngoại hạng Anh hiện nay và Sarri đang dùng anh như một số 10 hiện đại, một “Messi của Chelsea”. Trong khi đó, Jorginho lại là cầu thủ điều phối bóng, cầm nhịp trận đấu và là cỗ máy phát động chủ yếu. Các đường chuyền phát động phần lớn đều khởi nguồn từ Jorginho và cầu thủ con cưng này của Sarri cũng là người luôn xuất hiện ở các vị trí an toàn để đồng đội giải toả áp lực từ đối thủ. Còn Kante, Sarri đã đưa anh lên đá một vị trí khác so với những gì người ta vẫn hình dung về anh. Kante không còn là một tiền vệ thu hồi bóng đơn thuần nữa. Nói theo cách của dân chơi Football Manager, anh hoạt động như một Carrilero, một dạng con thoi kiểu Ý. Và với sự hỗ trợ của Kante cùng Kovacic, Chelsea hình thành rất rõ hai “tiêu điểm” nổi bật là Jorginho-Hazard mà trong đó, một người phát động và một người sáng tạo, tổ chức các đợt công thành.

Trong lối chơi chung đó của Chelsea, Olivier Giroud đóng góp rất nhiều vào lối chơi chung. Chúng ta nhìn thấy rất rõ trong trận Liverpool vừa rồi, Giroud chơi “sáng nước” hơn hẳn hồi anh còn ở Arsenal. Tự tin hơn, xử lý bóng kỹ thuật hơn rất nhiều, Giroud đóng vai một Defensive Forward hiệu qủa để đồng đội có thể có cơ hội uy hiếp khung thành đối phương. Nhưng cũng chính Giroud, và cả những người chơi cùng vị trí với anh, đang là vấn đề rất lớn của Sarri lúc này. Nếu chỉ biết tạo áp lực lên hàng tiền vệ đối thủ, chỉ biết di chuyển rộng kéo giãn hàng thủ đối phương tạo cơ hội cho đồng đội thì chưa đủ. Một tiền đạo là phải ghi bàn và khi tiền đạo của Sarri chưa thể ghi bàn, đó chính là điều đáng ngại.

Nhìn vào thống kê chúng ta sẽ giật mình. Tay săn bàn chủ lực của Chelsea lúc này vẫn chỉ là Hazard và rõ ràng, một mình Hazard là không đủ. Có thể, chúng ta sẽ nhìn vào cách Les Bleus lên ngôi vô địch mà Giroud không ghi được bàn nào để biện minh cho vai trò của Giroud, với cách nói rất chung chung là “đóng góp vào lối chơi chung” nhưng so sánh như vậy là khập khiễng và ngụy biện. Để vô địch World Cup, Les Bleus chỉ cần hoàn thành tốt 7 trận và nếu Giroud không ghi bàn trận nào trong 7 trận ấy, đồng đội anh hoàn toàn có thể làm thay việc đó. Còn Premier League là một giải đấu 38 vòng và không thể nào cả 38 vòng chỉ trông đợi vào một cá nhân là Eden Hazard. Kể cả khi Hazard khoẻ mạnh sung sức không hề dính chấn thương đi nữa, trông đợi đó vẫn chỉ là một ảo tưởng không hơn không kém.

Hãy nhìn vào mùa giải 2007/08, mùa giải mà thực chất Ferguson đã làm bất ngờ tất cả khi để Man United chơi thực tế với đội hình 4-6-0. Trong đội hình ấy, Rooney di chuyển theo trục dọc còn Tevez thì di chuyển rộng để kéo giãn đối thủ tạo điều kiện cho Ronaldo toả sáng. Và đó là mùa Ronaldo ghi tới 42 bàn cho Man United ở mọi mặt trận. Nhưng rõ ràng Man United không chỉ dựa vào Ronaldo. Khi có cơ hội, Rooney và Tevez vẫn phải thể hiện bản lĩnh săn bàn, chứ không phải hoàn thành nhiệm vụ chim mồi. Cặp Rooney-Tevez cũng góp tới 37 bàn (Rooney 18, Tevez 19) ở mọi mặt trận cho Man United. Và đó là lý do lớn để tạo nên một nhà vô địch ấn tượng ở mùa 2007/08.

Còn Sarri lúc này có gì? Morata và Giroud không hề cho thấy họ có khả năng trở thành sát thủ khi cần thiết. Morata, vốn được kỳ vọng chơi như một tiền đạo toàn diện (complete forward) nhưng mới chỉ đóng góp duy nhất 1 bàn cho Chelsea tính đến lúc này. Hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra trước Liverpool đêm cuối tuần vừa rồi nếu Sarri có một trung phong sát thủ, vừa biết đóng góp vào lối chơi chung cho Hazard tỏa sáng, lại vừa biết chớp cơ hội để tạo dấu ấn cá nhân cho mình? Chắc chắn, lúc ấy Chelsea đã có 3 điểm chứ không phải chỉ một trận hòa đơn thuần.

Và khi quay lại với trận cầu ấy, hãy nhìn vào một chi tiết bên phía Liverpool. Daniel Sturridge vốn dĩ không phải cầu thủ ưa thích của Klopp và với chấn thương như mãn tính của mình, anh cũng ít được ra sân kể từ khi Klopp về cầm quân. Nhưng khi Liverpool thiếu vắng một chút gì đó để có thể có bàn thắng, Sturridge đã ghi bàn. Và cú sút từ ngoài vòng cấm của anh là khá “khác lạ” so với lối chơi thường thấy của Klopp, vốn dĩ hay ăn bàn ở các tình huống phối hợp cận thành nhiều hơn. Nhưng nó chính là khác biệt và nó cho thấy một trung phong là phải thế. Trong khi đó, ở Chelsea, Sarri rõ ràng đang thiếu một cầu thủ trung phong thực thụ có khả năng hiểu và thể hiện nhiệm vụ của mình bằng các tình huống cụ thể trên sân.

Giờ thì chúng ta đã hiểu Chelsea đang thiếu gì. Và nếu Abramovich tỉnh táo, kỳ chuyển nhượng mùa đông là lúc ông nên tặng Sarri một món quà nào đó. Nên nhớ, ở Napoli, Sarri từng có Higuain, một cầu thủ có trình độ hơn nhiều so với Olivier Giroud và Morata.

 

Chelsea 2

Chú thích hình ảnh: Vị trí quân bình của Chelsea theo các thống kê pass map của họ từ đầu mùa giải. Mũi tên liền là hướng di chuyển, mũi tên rời là hướng chuyền bóng.

JOSE MOURINHO vs. PAUL POGBA: GIỌT NƯỚC EGO 

Ở thời đại kỹ nghệ này, khi mà những người trẻ thông thạo công nghệ thông tin, có am hiểu bóng đá và vô cùng đam mê… đã tạo ra một thứ nghề nghiệp mới được gọi là “data analyst”, vẻ như những “tuyển trạch viên” (scout) cổ điển đã mất dần đất sống. Song, thực tế, đó chỉ là cảm nhận của chúng ta mà thôi. Những scout vẫn sống, và sống mạnh mẽ. Trước sự tham gia (mà không hề lấn sân) của những data analyst, những scout có thêm trợ thủ đắc lực cho mình trong việc đánh giá một cầu thủ nào đó. Có thể nói, các CLB bắt đầu đi trên hai chân: một chân công nghệ lý tính và một chân cổ điển cảm tính.

Vả lại, các scout cũng chẳng hề mất chỗ bởi những data analyst không chỉ làm mỗi một việc đánh giá một cầu thủ nào đó mà CLB muốn mua. Họ còn đánh giá chính cả những cầu thủ đang chơi trong CLB, giúp HLV một tay trong việc lựa chọn đội hình tối ưu nhất ra sân.

Và trong cuộc chơi hôm nay, khi mà bóng đá đã trở thành một danh mục đầu tư  hứa hẹn lợi nhuận, những data analyst rất có giá trong mắt những người điều hành. Câu chuyện chúng ta sẽ bắt đầu từ Woodward, một nhà điều hành một CLB vĩ đại bậc nhất thế giới. Woodward hiểu bóng đá đến chừng nào? Câu trả lời là rất khó vì chúng ta không một ai đã tiếp xúc với ông (chứ đừng nói tới tiếp xúc đủ lâu) để đánh giá. Nhưng những người như Woodward sẽ tin vào số liệu hơn. Và do đó, nếu đứng trước một báo cáo của Jose Mourinho về Paul Pogba chẳng hạn, Woodward sẽ chỉ mới tin một nửa. Nửa còn lại, ông chờ vào data analyst của Man United cho ông biết trận đấu vừa rồi Pogba chơi như thế nào. Hơn nữa, Woodward cũng có đôi mắt chủ quan của mình. Nếu những dữ kiện mà data analyst đưa cho ông phù hợp với cảm tính nhãn quan của ông, ông sẽ càng tin vào nó hơn.

“Ở Man United, bạn phải cống hiến 100%. 95% là không đủ, nhất là khi đối thủ cống hiến tới 101% là đằng khác”. Mourinho mở màn cuộc phản pháo lại Paul Pogba bằng câu nói ấy. Và ông đưa ra quyết định công khai: tước băng đội phó thường trực của Paul Pogba. Điều đó, với một gã như Pogba, nó là một cái tát.

5% cống hiến còn lại của Pogba đã đi đâu mất? Chúng ta thừa sức trả lời câu hỏi đó, khi nhớ lại bàn gỡ hòa của Wolves. Lỗi đều nằm ở Pogba, khi anh che người, giữ quả bóng lại một nhịp và để đối thủ cướp bóng phản công. Tất cả đều nhận ra Pogba đã mắc sai lầm như thế nào. Song, hãy nghiêm túc trả lời câu hỏi này: “Sai lầm đó có phải đến từ sự Không-Nỗ-Lực-Cống-Hiến?”.

Nếu không nỗ lực, Pogba không cần cố gắng khống chế bóng thêm một nhịp nữa làm gì, mà thay vào đó, chuyền bóng bất chấp. Nhưng Pogba giữ lại vì anh ta chờ đồng đội dâng lên để từ đó bắt đầu phát động một đợt hãm thành mới. Nhưng không ai ở gần Pogba lúc đó cả. Đội hình của Man United lúc ấy rất có vấn đề. Vấn đề ấy không phải do Pogba. Nó do chính Mourinho gây nên. Fred trả bóng về cho Fellaini, Fellaini đẩy lên cho Pogba, khi Pogba đang ở vị trí tâm vòng tròn giữa sân. Sau đường chuyền của Fred cho Fellaini, Fred không di chuyển. Sau đường chuyền của Fellaini cho Pogba, thêm cả Fellaini cũng không di chuyển. Pogba nhận bóng, cố giữ một nhịp, vẫn không ai di chuyển. Tất cả đều chọn vị trí rất “trời ơi” là ở trong tầm phong toả của các cầu thủ Wolves. Vậy thì trách lỗi một mình Pogba có phải là đủ?

POG

Nhưng với Mourinho, chỉ mình Pogba là đủ. Và trong mắt nhiều người xem bóng đá, trách mình Pogba cũng là đủ. Nhưng dữ liệu phân tích sẽ không nói thế. Nhìn passmap, so sánh các chỉ số, rõ ràng Pogba là cầu thủ chơi xuất sắc nhất phía Man United ở trận hòa ấy.

Pogba chuyền 100 đường chuyền ở trận gặp Wolves, trong đó 85 đường chuyền ngắn và 15 đường chuyền dài, tỷ lệ chính xác lên tới 84%. Một mình anh tạo ra 4 cơ hội ở trận cầu ấy và 1 trong số 4 cơ hội ấy trở thành cú kiến tạo thành bàn. Và thực sự, pha kiến tạo ấy chính là chút xúc cảm của thứ bóng đá thẩm mĩ, kịch tính và tạo hứng khởi hiếm hoi còn sót lại ở Man United kể từ thời hậu Ferguson. Pogba “lườm rau gắp thịt” khi mắt nhìn về phía khung thành như thể sẽ dứt điểm. Nhưng anh lại nhả bóng nhịp nhàng cho Fred, đúng tầm, vừa cữ. Bàn thắng ấy tưởng sẽ mở ra một đại thắng cho Man United nhưng hoá ra không phải. Nó chỉ là cái cớ để Man United chơi kiểu Mourinho, một lối bóng đá “trước khi thắng thì phải không thua cái đã”.

Đúng là Man United đã không thua, nhưng hoà trước Wolves ở Old Trafford là thua. Và nhìn vào passmap, chúng ta nhận ra rằng Pogba phải chuyền ra hai biên quá nhiều. Anh không thể nào triển khai bóng hướng lên trên một cách tích cực, vì ở trên, gần như rất vắng bóng các đối tác tấn công của anh. Nhìn vào heatmap, chúng ta quá hiểu. Cả Sanchez, Lingaard, Lukaku đều cực ít khi thâm nhập vòng cấm đối phương. Không phải là họ không muốn làm điều đó, hay không thể làm điều đó. Trong khi đó, Fellaini, Fred và Valencia hầu như chỉ chơi  ở phần 1/3 sân trung tâm. Người hiếm hoi thỉnh thoảng có những khi dâng lên là Shaw. Nhưng mình Shaw là không đủ. Lối chơi của Mourinho yêu cầu tất cả họ phải như thế. Và đó là lý do Pogba than thở rằng “ở sân nhà, lẽ ra phải tấn công, tấn công và tấn công”. Vậy thì có ai hiểu rằng Pogba đang cảm nhận anh đang là một bộ não đơn độc thực sự ở Man United hay không?

ManU pass map Wolves

Khá buồn là có vẻ rất ít người bênh vực Pogba. Dường như họ bị cú mất bóng tội lỗi kia của anh làm khuất hết tầm nhìn. Trên tờ The Times, tay bút Paul Hirst thậm chí còn cho rằng Mourinho đã đúng. Trong bài viết ấy, Hirst còn viện dẫn 14 “điều răn đội trưởng” của cựu đội trưởng huyền thoại Gary Neville để chỉ trích Pogba. Cụ thể, ông ta dẫn điều thứ 2 “Hãy cống hiến 100% mọi lúc” và điều số 7 “Hãy tận hiến mọi thứ bạn có cho nghề này để không phải nuối tiếc”. Những trích dẫn ấy quá giống với cái gọi là “chỉ chơi có 95% sức” mà Mourinho đã nói về Pogba. Và nó dẫn dụ người đọc đến những bình luận rất khắt khe. Thậm chí, có kẻ còn bình luận ác ý rằng “Pogba đang tỏ ra mình là một đại ca ghetto (da đen) của một băng đảng khi rời khỏi sân cỏ”. Và gã Hirst này đã cố tình quên điều 8 và 9, trong “14 điều răn đội trưởng” của Neville. Điều 8, đại ý Neville nói phải có một “cá tính, một tính cách riêng của mình khi chơi cho Man United” và điều 9, Neville nhấn mạnh phải là người dám chấp nhận rủi ro (risk taker) vì đó là bản lĩnh của một người cầm đầu.

Vâng, cú mất bóng của Pogba chính là bản lĩnh của một “risk taker” thực sự và việc bày tỏ quan điểm của mình trên vận mệnh đội bóng cũng như cách hành xử của Pogba trong phòng thay đồ lẫn trên sân đều cho thấy anh có một cá tính rất rõ rệt. Nhưng Mourinho không thích thế. Mourinho chỉ giỏi nhất khi ông ta mới là cá tính duy nhất, thủ lĩnh duy nhất. Vì thế, ông thành công ở Porto, ở Inter, hai đội bóng mà văn hoá của nó khá gắn liền với hai tiếng “gia đình”, nơi cần một người làm chủ. Và ở Chelsea thời kỳ đầu, Mourinho thành công bởi lúc ấy Chelsea còn là một CLB chưa hề định hình phong cách, còn bé nhỏ so với các đại gia châu Âu và đang rất cần một lãnh tụ chỉ lối cho mình. Khi Chelsea lớn mạnh, Mourinho lập tức “bình thường” khi tái hợp cùng nó.

Mourinho có lẽ nên nhớ chính ông là người đã rắp tâm lôi kéo bằng được Pogba trở lại Old Trafford. Ông thừa hiểu, với những CĐV Man United, sau khi trải qua những cơn buồn nản với Moyes, Van Gaal, họ rất cần một động lực hồi sinh theo kiểu “make it great again”. Việc Mourinho mang được Pogba về Old Trafford không khác gì một cú hích mạnh mẽ vào tinh thần của những CĐV đang yếu lòng ấy. Nhưng thay vì hô vang tên ông, họ đã hô vang tên Pogba trong những ngày đầu anh ấy trở về.

Và Mourinho cũng đã quên mất rằng, chính Pogba thú nhận anh luôn để Man United trong tim, và anh muốn quay lại nơi ấy. Đó là tuổi niên thiếu của anh. Và anh quay lại Old Trafford không chỉ vì Mourinho. Đó chỉ là lý do bé mọn nhất trong các lý do. Lý do lớn hơn cả là Pogba vẫn muốn được chơi bóng cùng những cậu bạn từ thời học viện, như Lingaard, như Januzai… và cả đồng đội ở tuyển Pháp là Martial. Nhưng Mourinho cư xử với những người trẻ ấy như thế nào? Và việc Pogba, với ý thức rõ về giá trị và sức nặng của mình ở CLB, đã đứng ra bảo vệ họ, có xứng đáng được ngợi khen hay không?

POg 2

Pogba từng ngồi hàng giờ liền chỉ để xem các đường chuyền của Paul Scholes khi anh còn ở học viện của Man United. Anh học rất nhiều từ nó, và học được rằng kiến tạo cũng thú vị chẳng kém gì ghi bàn. Sang Juve, anh kinh ngạc với Andrea Pirlo. Chính anh từng nói với Marchisio rằng “Ơ, tài thật, thế đ.. nào mà tôi thậm chí còn chả kịp thấy Giovinco chạy cơ, mà Andrea đã chuyền một phát chuẩn như thế”. Và rồi, Pogba học được thêm của Andrea Pirlo những kỹ thuật chuyền tinh tế. Trận Wolves vừa rồi, chính anh đã có những cú chuyền điểm rơi ở cự ly trung bình đẹp và chuẩn tới mức bất kỳ một cầu thủ tấn công nào cũng mong được hỗ trợ như thế. Nhưng không ai nhớ cả. Họ chỉ nhớ cái “5%” mà Mourinho nói mà thôi.

Vậy thì hãy ghi nhớ câu này, thật kỹ. Chính Pogba học được từ Paul Scholes và Andrea Pirlo một điều lớn lao nhất, chứ không phải chỉ là những đường chuyền. Đó là “không sợ mắc sai lầm”. Cả Paul và Andrea đều tự tin rằng nếu họ chuyền 1 đường bóng tồi, tất cả đồng đội của họ đều sẽ tin rằng sau đó họ có thể chuyền 9 đường bóng tuyệt vời. Paul Pogba cũng đang có được niềm tin ấy từ đồng đội nhưng Jose Mourinho thực sự đang cố tình phá hủy nó.

Và tại sao Mourinho phá hủy nó? Có thể, đó là thói quen. Ông cần lái sự chú ý vào điểm khác sau khi không thành công. Như trận thua trước Lampard ở Carabao Cup vừa rồi chẳng hạn. Thua xong, ông nói về băng đội phó thường trực của Pogba và “cảm nhận không hay” khi thấy Phil Jones bước lên chấm luân lưu. Tạị sao ông không nói về lý do Man United không thể ghi thêm bàn thắng  trước đối thủ yếu hoặc một phân tích chuyên môn nào khác? Lựa chọn ấy của ông, không chỉ có Chúa mới hiểu.

Trong bài nói chuyện gần đây nhất trên tờ Financial Times của tỷ phú David de Rothschild, ông đã thừa nhận rằng “cực kỳ cảm hứng với D.Deschamps sau World Cup 2018 vì đó là một HLV đã xây dựng được tinh thần tập thể đè bẹp những cái tôi”. Tại sao Deschamps làm được điều đó, khi có một cái tôi to đùng trong đội là Pogba còn Mourinho thì không? Và phải chăng lời chúc mừng nhưng đầy ám nghĩa mỉa mai của ông cho Pogba sau World Cup đã cho thấy tất cả: ông muốn ở Man United, chỉ duy nhất 1 cái tôi (ego) của ông tồn tại?

Pogba có tinh thần đồng đội, có tinh thần tập thể với những Qủy đỏ khác không? Các bạn đều có thể tự trả lời câu hỏi ấy. Vậy thì với Pogba lúc này, cái tôi (ego) lớn hơn hay tinh thần tập thể (team spirit) lớn hơn? Chỉ biết rằng, đối diện anh là một cái tôi khó chịu vô cùng, của Mourinho, người đã rất “gắt” với nhiều ngôi sao như CR7, như M.Salah. Không phải lúc nào Mourinho cũng thắng và kết cục thì bao giờ ông cũng ra đi ở mùa thứ 3. Giữa ông và Pogba lúc này, Man United chỉ có thể giữ được 1, thậm chí còn có khả năng phải giải tán cả hai. Nhưng ai sẵn sàng mua Pogba đây, khi giá gắn vào anh là cực cao.  Trong khi đó, thương hiệu của Pogba là còn lâu dài. Tính về kinh tế, có lẽ Woodward chẳng muốn hi sinh Pogba nếu buộc ông phải chọn hoặc cầu thủ người Pháp, hoặc Mourinho.

Nhưng suy cho cùng, nếu cuộc chiến ego này còn kéo dài, ai thắng, ai bại thì chúng ta chưa biết, song chắc chắn, kẻ chiến bại chỉ là những CĐV Man United mà thôi. Đơn giản, họ cần được thấy lại Man United của họ thật khác, chứ không phải hỗn độn và chơi bóng ngán ngẩm như thế này.

TUCHEL: “HOÀNG TỬ LAI” Ở PARIS 

 

Thomas Tuchel, người đàn ông mà có lẽ nếu cách đây chừng 5-6 năm, chúng ta sẽ không để ý đến cái tên ấy, con người ấy. Chỉ khi Tuchel đến Dortmund, và tiếp quản di sản của Jurgen Klopp để lại, người ta mới bắt đầu theo dõi xem vị HLV xuất thân từ một tỉnh lẻ của bang Bavaria sẽ xoay sở thế nào. Và tất nhiên, đa số những quan tâm dành cho Tuchel chỉ xoay quanh 1 câu hỏi “làm thế nào để Tuchel thoát khỏi cái bóng của Klopp để lại”.

Suy cho cùng, với chỉ 1 cúp DFB-Pokal (2016/17), ấn tượng Tuchel để lại không nhiều. Nhưng với việc PSG lựa chọn ông làm người thay thế cho Unai Emery, người ta bắt đầu đặt ra câu hỏi “thực sự năng lực của Tuchel đến đâu?”. Không dễ gì để một CLB thích chơi hàng hiệu như PSG quyết định bắt tay với Tuchel. Ở ông phải có điều gì đó khiến họ tin tưởng (ít ra là đến lúc này). Và cũng không dễ gì để Bayern Munich cũng từng tiếp cận để muốn có ông, ngay trước mũi của PSG.

Vậy thì thực chất, Tuchel là ai? Triết lý bóng đá của ông có giống như Klopp? Hay nó giống với Pep Guardiola, người mà Tuchel vô cùng ngưỡng mộ và không ít lần đã nhắc đến trong các cuộc phỏng vấn bằng sự thán phục vô cùng? Ông là một bản sao của Klopp hay của Pep và bản sao đó có điểm gì khác biệt? Tất cả những câu hỏi ấy cần được trả lời, để giải mã Tuchel.

Nói Tuchel giống Klopp là không sai. Thực tế, mỗi CLB đều theo đuổi 1 triết lý riêng. Có CLB thích kiểm soát bóng, thích duy trì đặc trưng ban bật ngắn ít chạm. Có CLB lại thích bóng dài, chơi phản công. Có CLB thì mê mẩn với lối đá kiểm soát thế trận… Và mỗi khi đàm phán với 1 HLV mới, giới chủ của các CLB  lớn luôn làm rõ với người HLV ấy rằng “chúng tôi muốn gìn giữ bản sắc này, muốn CLB chơi kiểu này”. Người HLV nếu chấp nhận công việc, ông ta sẽ phải đạt được mục đích ấy. Còn dùng phương pháp nào để đi đến đích, đó là quyền lựa chọn của HLV.

Chính vì thế, khi đàm phán với Reinhard Rauball, chủ tịch Dortmund, Tuchel đã “nắm ý” rất nhanh gọn. Khẩu quyết của Reinhard là phải giữ lại gegenpressing mà Klopp đã gầy dựng. Nó đã thành đặc sản ở Signal Iduna Park rồi. Tuchel cũng chẳng lạ lẫm gì với lối gegenpressing đó. Và ông tiếp tục duy trì nó ở Dortmund, duy trì đến mức nhuần nhuyễn và dần dần để nó thấm đẫm trong trí não của mình. Cho đến hôm nay, ở PSG, ông vẫn còn dùng gegenpressing ấy với đúng “khẩu quyết” ban đầu của nó là “thời điểm để đoạt lại bóng hữu hiệu nhất là khi vừa mất bóng và thời điểm tổ chức tấn công hiệu quả nhất cũng là khi vừa đoạt lại bóng”. Song, gegenpressing của Tuchel lại khác của Klopp ở một điểm. Klopp chỉ chú ý đến việc quây, tấp để đoạt bóng ngay từ hàng thủ đối phương và lập tức tổ chức tấn công với nhân sự tối giản (khi ở gần khung thành thì hiệu quả sẽ cao hơn) và nếu hành vi quây, tấp để đoạt bóng ấy không thành trong 6 giây đầu tiên, đội bóng sẽ lui lại 1 khối chặn phía trước bóng để kìm hãm khả năng phát động và tổ chức của đối thủ. Trong khi đó, Tuchel mạo hiểm hơn rất nhiều. Ngoài việc chủ động quây, tấp để đoạt bóng ở phần sân đối phương nhằm hướng đến cơ hội tấn công chớp nhoáng, Tuchel còn yêu cầu cầu thủ của ông tổ chức tấn công chớp nhoáng ngay cả khi đoạt bóng lại từ đối thủ ở ngay phần sân nhà của mình. Lối chơi này yêu cầu các tiền vệ trụ, các hậu vệ phải có khả năng chuyền vượt tuyến, xuyên tuyến chuẩn xác và đích của đường chuyền luôn nhắm đến 1 cầu thủ mục tiêu ở trên hàng công. Nếu nhìn vào passmap của PSG ở những trận thắng gần đây tại Ligue 1, chúng ta sẽ nhận ra rất rõ hướng đường chuyền của PSG trực diện hơn thời Emery rất nhiều. Từ chân của Silva, Marquinhos, Kimpenbe, Verratti… đã có rất nhiều đường chuyền dọc sân xuyên tuyến hoặc vượt tuyến cho mục tiêu là Neymar hoặc Cavani, hoặc Mbappe. Klopp không để Dortmund hay Liverpool chơi như thế một cách thường xuyên như thói quen. Khi đoạt bóng từ sân nhà, Klopp vẫn muốn đội bóng của mình dù có chơi trực diện đi nữa vẫn phải có những đường lên bóng lớp lang, có dàn xếp. Sự khác biệt giữa Tuchel và Klopp ở điểm này là lựa chọn giữa an toàn và mạo hiểm. Không thể nói ai hay hơn ai, ai tốt hơn ai nhưng rõ ràng khi chấp nhận rủi ro, người ta cũng gần với cơ hội thành công hơn. Đặc biệt, nếu cầm một đội quân mà hàng công toàn hảo thủ, có chỉ số xG tốt hơn, lựa chọn mạo hiểm không hẳn đã là sai lầm.

tuchel

Nhưng Tuchel cũng có cách chơi giống với Pep Guardiola, thần tượng của ông. Điểm đầu tiên mà Tuchel học từ Pep chính là việc đội bóng ứng xử thế nào khi mất bóng. Pep từng nhận xét rằng “khi mất bóng, đội bóng của tôi chạy theo quả bóng để giành lại nó như con chó chạy theo cục xương vậy”. Và Tuchel thích xây dựng một tập thể không ngừng nghỉ, không mệt mỏi trong việc đoạt lại quả bóng bằng mọi giá. Ông thích cho đội bóng của mình kiểm soát bóng nhiều hơn nhưng ông đặt ra một ý thức cho các cầu thủ rằng “nếu anh có trình độ kỹ thuật thượng thừa thì điều đó cũng chưa đủ để kiểm soát bóng tốt. Muốn kiểm soát bóng thật tốt, trước hết anh hãy đoạt lấy nó cái đã”. 

Và một điểm nữa Tuchel cũng ảnh hưởng từ Pep là việc triển khai bóng ở giữa sân khi đối thủ chơi quá chặt chẽ. Không phải khi nào đội bóng của ông cũng có cơ hội để chơi trực diện bằng những đường chuyền xuyên tuyến, vượt tuyến như kể trên, đặc biệt là khi đối thủ được tổ chức quá tốt. Lúc ấy, hàng tiền vệ của Tuchel có xu hướng chơi gần nhau, chuyền ngắn ở tốc độ cao, ít chạm và đột ngột chuyển hướng (switch play) khi phát hiện đối phương để lộ khoảng trống. Cách chuyển hướng này thực sự rất giống với những gì mà Pep xây dựng cho Barca, Bayern và bây giờ là Man City. Nó khiến người xem liên tưởng đến lối đánh cờ của Karparov: cố tình làm đối thủ bận tâm quá nhiều ở một bên cánh, để nghĩ rằng cuộc chơi đang được ta triển khai ở đó nhưng bất thần đưa ra những đòn hiểm ở cánh đối diện. Song, đừng lầm lẫn chuyện Tuchel bị ảnh hưởng của Pep để rồi đánh đồng là Tuchel cũng…tiki-taka. Không có cái gọi là tiki-taka ở Tuchel, một người Đức với tư duy luôn hướng bóng lên phía trên một cách nhanh nhất và trực diện nhất. Điểm khác của Tuchel với Pep cũng y như điểm khác của ông với Klopp, tức những đường triển khai vượt tuyến, xuyên tuyến mạo hiểm như đã nói ở trên. Điểm nút trung chuyển để chuyển hướng chơi của PSG được Tuchel lựa chọn là Rabiot và Neymar. Ở PSG, Tuchel đưa Neymar về chơi như 1 số 10 và rõ ràng, ông đang cho thấy tham vọng muốn Neymar chính là một “Messi của Paris”.

Như vậy, rõ ràng Tuchel đang cho thấy ông là một phiên bản “lai” (hybrid) giữa Klopp với Pep Guardiola. Nói như thế không có nghĩa rằng Tuchel giỏi bằng 2 HLV kia gộp lại mà thực tế là Tuchel học từ họ. Xu hướng của nghề huấn luyện hôm nay là sự kế thừa có cải biến và chỉ có những HLV hàng đầu, tầm vóc huyền thoại mới là những người tạo ra một bản sắc riêng mà vẫn hiệu quả. Phần còn lại là học hỏi lẫn nhau, lấy cái hay của người này bổ khuyết cho cái dở của người kia và ngược lại để từ đó xây dựng ra một phương pháp riêng cho mình trong một thời đoạn. Điển hình như việc Deschamps thay đổi chính mình, so với năm 2014, 2016, để đưa Les Bleus lên ngôi vô địch bằng 1 diện mạo rất khác. Tuchel cũng vậy thôi, ông cóp nhặt của Pep một chút, của Klopp một chút, thêm vào đó ý tưởng về việc chuyền bóng xuyên tuyến, vượt tuyến cho các mục tiêu định sẵn trên hàng công để săn tìm hiệu quả. Còn bản sắc riêng ư? Tuchel còn một khoảng thời gian rất dài để chứng minh rằng ông có thể tạo ra nó, trình diễn nó và thuyết phục được cả giới chuyên môn lẫn khán giả.

Và nhân tiện nói đến bản sắc và triết lý, hình như ở PSG chưa có một triết lý chơi bóng nào cụ thể ngoài cái gọi là “đề cao kỹ thuật và chỉ ký với những tên tuổi lớn”. Bởi thế, họ mới chấp nhận một phiên bản lai ở Công viên các hoàng tử và cũng vì cái sân ấy mang tên như thế nên ta tạm gọi Tuchel là hoàng tử lai cho dù ông không hề có vẻ ngoài điển trai của một ông hoàng.

JUERGEN KLOPP: TRIẾT LÝ KHÔNG CHỈ LÀ GEGENPRESSING

Juergen Klopp, niềm cảm hứng ở Anfield, HLV mà bây giờ hễ ai nhắc tên ông là lập tức người ta nghĩ ngay đến gegenpressing. Ge-Gen-Pres-sing, bốn tiếng ấy nói thì rất “bon mồm” (thuận miệng) và nghe có vẻ sang sang nhưng thực tế, hiểu nó là gì lại là cả một câu chuyện dài. Và khá nhiều người đã tranh luận với nhau rằng suy cho cùng, gegenpressing là gì cùng câu hỏi: thực sự, triết lý của Klopp có phải chỉ là gegenpresing?
Trước khi bàn về Klopp, về gegenpressing, có lẽ chúng ta hãy thử chạy vòng trở lại với con đường bóng đá, một quãng đường ngắn thôi, ở ngay những gì có thể đã, đang hoặc mới xảy ra hôm qua, hôm nay hoặc ngày mai. Từ đó, cánh cửa mở ra để Klopp là chủ nhân căn nhà tưởng tượng chào đón chúng ta sẽ gần hơn rất nhiều.
Bạn nghĩ gì về tình huống bóng đặc trưng Barca như thế này. Ở sân nhà, Umtiti-Pique-Busquets chuyền đi chuyền lại cho nhau hơn chục đường chuyền ngắn, đúng đặc trưng kiểu chuyền an toàn (safe pass) để duy trì kiểm soát bóng. Rồi bất thần, khi đối thủ của Barca bắt đầu lộ ra vài khoảng trống do cự ly, cấu trúc, hình dạng đội hình xộc xệch, Umtiti chuyền bóng cho Rakitic đang chơi ở vùng đệm (half space) bên phải. Ratkitic nhìn thấy Messi ngay phía trên mình, anh xẻ đường chuyền giữa hai tiền vệ đối thủ để bóng đến chân Messi. Messi nhìn thấy Sergi Roberto leo lên ở biên phải, anh đập nhả (underlap) với Roberto để thoát hậu vệ đang dâng lên kèm sát mình. Đón bóng từ Roberto, Messi xộc thẳng xuống góc vòng 16m50, xẻ đường chuyền hướng đến góc xa (cột 2). Ousmane Dembele lao xuống như chớp, đón bóng, chỉnh nhanh một nhịp và căng ngược ra cho Suarez lao vào dứt điểm. Cả đội Barca ăn mừng. Tất cả chỉ diễn ra trong vòng chưa đến 10 giây, và đối thủ của Barca không hiểu chuyện gì xảy ra, trong khi đó, rất nhiều người chứng kiến phải thoáng nghĩ “không hiểu họ chơi bóng kiểu gì. Đó là thứ bóng đá từ vũ trụ”.
41700055_325582734859053_2928580079921397760_o
Rồi, hãy dẹp Barca từ vũ trụ ấy sang một bên, và nhớ lại một tình huống khác. Trận gặp Man United ngày 28/11/2015, trên sân nhà của Leicester (xem minh hoạ). Man United dâng cao uy hiếp từ đầu, muốn có những bàn thắng sớm để khiến hiện tượng Leicester phải trở về với mặt đất. Qủy đỏ tin rằng trước đó 2 tháng Arsenal có thể thắng Leicester City 5-2 ngay trên sân King Power thì họ cũng dư sức làm được điều đó. Một cú dứt điểm không thành của Man United, Schmeichel bắt gọn bóng. Anh ta ném nhanh cho Fuchs. Fuchs chạy băng lên với tốc độ rất cao ở cánh phải. Sau cú rút 40m, Fuchs nhận thấy Vardy đang chạy như gió trước mặt mình, phía trước mình 20m. Vardy đã sắp vào vòng cấm của Man United rồi. Fuchs tung đường chuyền đón đầu. Vardy tiếp bóng ngay khi vào đến 16m50. Sau lưng Vardy là Mahrez và Okazaki, ở hai bên vùng đệm. Vardy ung dung chỉnh bóng dứt điểm vào góc xa. De Gea bất lực. 1-0 cho Leicester City. Tất cả chỉ diễn ra trong vòg 4 giây. Rất nhiều khán giả ngỡ ngàng bật ra câu nói “má ơi, hắn chạy như máy. Máy chứ không phải người nữa rồi”. Và ở mùa giải đó, “cái máy chạy” ấy của Ranieri đã cùng Leicester City ghi nhiều bàn thắng dạng đó để lần đầu tiên trong lịch sử họ lên ngôi vô địch Premier League.
Hai pha bóng được miêu tả kia (một là tưởng tượng theo khuôn mẫu từng xảy ra nhiều lần – pha của Barca; và một là thực tế – pha của Vardy) cho bạn suy nghĩ gì? Tất cả đều chỉ quy về đúng một điểm: sự khác nhau giữa tấn công (attack) và phản công (counterattack).
Trước tiên, chúng ta hãy định nghĩa thế nào là counter, có nghĩa là “phản”. Phản ở đây có hẳn mang nghĩa “chống lại”; “đối lập lại” hay không? Nếu chỉ mang nghĩa ấy, counterattack có nghĩa là “chống lại tấn công” ư? Chống lại tấn công, xin thưa, cnỉ có một cách: đó là phòng ngự.
Vậy thì phản công (counterattack) nghĩa là gì?
Counter thực ra là một khái niệm xã hội học, để nói về một xu hướng không chủ lưu, không mang tiếng nói số đông. Ví như counterculture – phản văn hoá chẳng hạn. Phản văn hoá cũng là văn hoá. Nó là một xu hướng văn hoá thiểu số với những giá trị khác biệt so với văn hoá đại chúng đang được chấp nhận và thực hành rộng rãi. Có người cũng gọi nó là tiểu văn hoá (subculture). Và một khi nó đã đạt được số đông nhất định, nó sẽ không còn là counter nữa, mà được coi là một mẫu hình văn hoá đại chúng chủ lưu. Nó giống như Sơn Tùng M-TP. 7 năm trước, cậu ta vẫn hay ho, tài ba như hôm nay thôi. Nhưng khi ấy, hoạt động trong một môi trường giới hạn hơn, nên cậu khoác chiếc áo underground. Còn bây giờ, khi đã là vua của các thể loại fanbase, cậu ấy xuất hiện với tư cách của một nhân vật giải trí chủ lưu (Mainstream) thực sự. Và thứ cậu ấy hát cả ở thời chủ lưu lẫn underground đều là âm nhạc cả.
Vậy thì quay lại với câu hỏi ở trên, xin trả lời ngắn gọn, counterattack cũng chính là bóng đá tấn công, nhưng nó mang những giá trị khác biệt riêng biệt so với bóng đá tấn công phổ cập. Nói đúng ra, nó là “phản-tấn công”, tức là tấn công bằng những quy tắc riêng phá vỡ những quy tắc chung về bóng đá tấn công truyền thống.
Hãy phân tích tình huống Barca ở trên. Những cú chuyền ngắn an toàn giữa bộ 3 Umtiti-Pique-Busquets là hành vi DÀN XẾP. Đó là dạng dàn xếp an toàn để chờ đợi thời cơ. Nhưng khi Umtiti nhìn thấy Ratkitic có khoảng trống quá đẹp để làm điều gì đó bất ngờ, anh ta chuyền cho Ratkitic và đường chuyền ấy gọi là hành vi PHÁT ĐỘNG. Ratkitic nhận ra mối liên hệ Messi – Roberto và quá tin cậy vào tài năng của Messi, anh ta chuyền thông minh và đúng cự ly, hình dạng đội hình cho Messi. Ấy gọi là đường chuyền TỔ CHỨC. Và khi Messi đập nhả với Roberto để rồi xỉa bóng xuống cho Dembele, nó gọi là hành vi KIẾN THIẾT mà chúng ta quen được nghe là “dàn xếp tấn công” (một cụm từ rất hay) từ các BLV trên truyền hình. Cú nhà lại của Dembele chỉ đơn thuần là kiến tạo và người ta hay ghi công kẻ kiến tạo mà quên béng mất trước đó cả tổ hợp đã vận hành thế nào.
Còn pha bóng của Leicester City thì sao. Nếu không thành pha tấn công, cú ném bóng của Schmeichel sẽ chỉ đơn thuần là đường chuyền bóng an toàn. Nhưng thực tế, nó có chủ đích và mang lại pha tấn công cụ thể. Bởi thế, nó có thể được coi là hành vi PHÁT ĐỘNG. Còn Fuchs, thực tế khi nhận bóng, việc anh ta chạy và ý thức được đồng đội của mình cũng chạy đúng vị trí, hành động chuyền bóng của anh ta có thể vừa được coi là phát động, là tổ chức (cả lối chơi lẫn tấn công) và cũng là cả kiến thiết rồi kiến tạo. Tất cả được gói gọn (compact) lại trong ít hành động hơn so với pha bóng của Barca rất nhiều. Nhưng nó vẫn là tấn công. Thế thôi. Khi bạn cầm bóng, và cố gắng hướng nó đến khung thành đối phương, nó phải là tấn công chứ không thể là thứ gì khác.
Vậy thì chắc bạn đã rõ, phản công khác tấn công ở chỗ nào. Phản công chính là tấn công nhưng với ít hành vi hơn, để tiết kiệm tối đa thời gian, để tạo tính bất ngờ và từ đó mở ra cơ hội rất lớn.
Bây giờ thì ta quay lại với Juergen Klopp, nhân vật trọng tâm của câu chuyện. Gegenpressing thực chất là “counter-pressing” khi được dịch ra tiếng Anh. Nhiều người gọi nó là “pressing phản công” trong tiếng Việt và hiểu như thế không sai, song thực tế là chưa đủ. Đầy đủ hơn, chúng ta phải hiểu gegenpressing là một dạng pressing đặc trưng của Klopp, và nó có những giá trị riêng biệt, khác biệt hoàn toàn so với pressing truyền thống. Khi nó có đủ số “tín đồ” theo đuổi, trở nên phổ biến mạnh mẽ như chủ lưu, có lẽ người ta sẽ phải bỏ chữ gegen (trong tiếng Đức, gegen là counter) đi để đặt tên là Kloppressing cũng nên?
Trong pressing truyền thống, có những khu vực tổ chức pressing (chuỗi tổ hợp các hành vi được lập kế hoạch trước để đoạt lại quyền kiểm soát bóng) khác nhau. Ở phần sân nhà thì gọi là Pressing phòng ngự, ở giữa sân thì gọi là pressing tấn công còn ở phần 1/3 sân đối phương thì là pressing cực đoan (tạm dịch từ ultra offensive pressing). Lối pressing của Klopp rơi vào phần cực đoan này, nhưng nó khác với các đội bóng cũng chơi pressing cực đoan khác ở chỗ, nếu pressing được tiến hành bởi nhóm từ 3-5 cầu thủ thì gegenpressing nhiều khi chỉ sử dụng 2 cầu thủ chơi cao nhất mà thôi. Chủ đích của họ là phong tỏa, tạo áp lực, chia cắt các cầu thủ phòng ngự đối phương để họ không thể phát động bóng. Hướng nhắm tới luôn là thủ thành (nếu thủ thành giữ bóng), trung vệ, hai hậu vệ biên và tiền vệ trụ. Trong khi đó, ở tuyến dưới, Klopp hình thành một nhóm khác, với khoảng 3-5 cầu thủ, quây, bóp nghẹt không gian những cầu thủ phía trên của đối phương. Như vậy, gegen pressing là tối thiểu hai tổ hợp cầu thủ tổ chức pressing cùng lúc ở 2 khu vực. Và quan trọng nhất, hai tổ hợp ấy bổ trợ cho nhau nhuần nhuyễn nhưng có thể coi là hai module hoạt động độc lập với nhau. Để tập đến trình độ ấy, cầu thủ phải có ý thức chiến thuật rất cao và độ hiểu nhau cũng cực lớn. Và hãy thử đặt mình vào vai trò của một trung vệ (hoặc thủ thành) của đội bóng đối thủ của Liverpool chúng ta mới hiểu gegenpressing ghê gớm đến mức nào. Bạn sẽ ngộp thở khi cầm bóng vì không biết có thể chuyền vào đâu, cho ai là an toàn nhất.
41663776_325582711525722_8103173454284455936_n
Chừng đó có lẽ là đủ để nhận diện gegenpressing, theo quan niệm “phản-pressing” cũng là một dạng pressing với những giá trị và phong cách khác. Song đủ nhận diện không có nghĩa là đủ để đánh giá bản chất, dù chỉ là phổ quát. Gegenpressing còn một yếu tố nữa không thể bỏ qua. Đó là việc đoạt bóng ở phần sân đối phương mang lại một hiệu quả vô cùng quan trọng. “Nếu đoạt bóng ngay ở phần 1/3 sân đối phương, bạn chỉ cần 1 đường chuyền là có ngay cơ hội dứt điểm. Không một cầu thủ tổ chức tấn công nào trên thế giới này có thể làm tốt hơn so với việc ta ở vào tình thế ấy cả”, đó chính là lời tự nhận định của Klopp về gegenpressing của mình. Và ông nói đúng. Nếu Messi cần thời gian đột phá, cần phối hợp bật nhả với đồng đội để rồi mới tỉa bóng cho Dembele thì ở gegenpressing, đoạt được bóng xong, chỉ cần một đường chuyền là đã có thể có cơ hội uy hiếp khung thành. Thậm chí, có nhiều tình huống, đoạt bóng xong, Sadio Mane hay Salah, Firmino chỉ cần dấn 1 nhịp là đã đối diện thủ thành đối phương rồi. Nói chung, gegenpressing là khi đoạt bóng, tổ chức tấn công chớp nhoáng bỏ qua mọi giai đoạn cơ bản như phát động, tổ chức hay kiến thiết mà thay vào đó là trực diện, đánh nhanh rút gọn. Hơn nữa, gegenpressing còn “chống lại pressing” ở chỗ: nếu ta chớp nhoáng tấn công sau khi đoạt lại bóng, đối thủ chưa kịp tổ chức lại đội ngũ để pressing, điều đó có nghĩa là ta đã không cho họ chơi pressing đúng nghĩa và bài bản. Nói dùng pressing để chống lại pressing cũng là vì thế. Và chính Klopp cũng đã nhận xét rằng “Thời điểm tốt nhất để đoạt lại bóng là khi vừa mất nó, lúc đối thủ chưa định hình được hướng triển khai. Và thời điểm tốt nhất để tấn công cũng là khi vừa đoạt lại bóng, khi đối thủ còn chưa kịp sắp xếp lại đội hình”.
Như vậy, gegenpressing còn khác với pressing truyền thống ở điểm nào? Dễ nhận thấy, pressing truyền thống là để đoạt lại bóng. Đoạt lại bóng rồi, bạn sẽ cần dàn xếp an toàn, phát động, tổ chức, kiến thiết… rồi mới uy hiếp khung thành đối thủ. Hoặc có nhanh như của Leicester thì đoạt bóng xong, cũng cần phải có phát động hoặc kiến thiết. Còn gegenpressing thì sao? Nhanh gọn: đoạt bóng xong, dứt điểm hoặc kiến tạo cho đồng đội dứt điểm đúng kiểu “Cướp xong Giết”. Dễ hiểu, cự ly từ điểm đoạt bóng đến khung thành đối phương là quá gần.
Có lẽ, tới đây là chúng ta đã hiểu phần nào (đáng kể) về gegenpressing rồi. Và nghe những lời phân tích có thiên hướng ca ngợi nó, hẳn bạn sẽ đặt câu hỏi “ưu việt thế thì tại sao nó lại không giúp Klopp có nhiều danh hiệu như Mourinho hay Pep Guardiola?”. Đơn giản thôi, hãy xem Liverpool đá với Tottenham cuối tuần này, bạn sẽ nhận ra một điểm đặc trưng của Gengenpressing. Lối chơi ấy diễn tiến theo một quy luật rất dễ nhận diện: Juergen Klopp luôn yêu cầu dâng cao đội hình để pressing cực đoan và pressing tấn công nhằm có bóng và tạo cơ hội áp đảo ngay lập tức. Nhưng nếu chỉ sau khoảng 6 giây mà không lấy lại được bóng, ông yêu cầu toàn bộ đội hình lui về tạo nên một khối cô đặc chắn trước bóng, không cho đối thủ có không gian triển khai. Thời gian cô đặc trước bóng đó cũng chính là lúc các cầu thủ của Klopp tích lũy lại năng lượng. Hơn ai hết, Klopp hiểu rằng gegenpressing tiêu hao thể lực kinh khủng. Và đội bóng của ông cũng thường có thói quen chơi chậm lại, lùi sâu hơn ở giữa hiệp để dưỡng sức nhằm dành trọn năng lượng cho những cú bung ra ở cuối hiệp, thời điểm đối thủ hay mất tập trung nhất. Chính vì thế, gegenpressing cũng hay gặp rủi ro lớn là nếu đối thủ tỉnh táo, họ có thể khai thác không gian sau lưng hàng thủ (khi đội bóng của Klopp say mê dâng quá cao) và hơn nữa là vấn nạn chấn thương do cường độ hoạt động quá khắc nghiệt.
41719326_325582708192389_3165323577834602496_n
Vậy thì chốt lại, gegenpressing có phải là triết lý của Juergen Klopp hay không? Thực ra là không. Nó chỉ là phương pháp chiến thuật của ông mà thôi. Triết lý là thứ gì đó súc tích hơn, khái quát hơn và mở ra nhiều hướng hình dung hơn. Nói gegenpressing là triết lý của Klopp là chưa đủ. Triết lý của ông, đơn giản hơn nhiều, như chính cách ông tự nhận xét về bóng đá của mình rằng “bóng đá với tôi là tốc độ và cảm xúc”. Tốc độ ở đây không chỉ là những cỗ máy chạy như kiểu Vardy mà còn là tốc độ tư duy, tốc độ chuyển đổi lại trạng thái, tốc độ ra quyết định. Tốc độ cực cao ấy không có nghĩa chỉ là những pha pressing cực đoan để nhằm kiếm cơ hội uy hiếp khung thành ngay mà nó phải là tốc độ tổ chức pressing để “cắt đứt mọi khả năng chuyền bóng trong khi đó tổ chức khép chặt vòng vây người cầm bóng”. Tốc độ cực cao ấy còn khiến đối thủ “không kịp thở”, tức là không có cả thời gian lẫn không gian kịp để xử lý quả bóng thế nào cho chính xác. Tốc độc cực cao ấy còn dẫn tới việc đối thủ không kịp chuyển đổi trạng thái từ tấn công sang phòng ngự và ngược lại. Và quan trọng hơn nữa là cảm xúc, thứ nhiều người đang rên lên là bóng đá đã mất đi quá nhiều suốt hơn chục năm qua. Hãy nghĩ, nếu không có cảm xúc, khó có thể chịu nổi lối chơi như hành xác của Klopp. Cảm xúc ấy như một liều adrenaline khiến cầu thủ hưng phấn và tỉnh táo hơn. Và vượt trên tất cả, nó còn là cảm nhận về chính đồng đội của mình, để kết cục của những đường chuyền bao giờ cũng là nụ cười, với hàm ý kiểu như “má ơi, sao anh em mình hiểu nhau thế nhỉ?”.

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA MOURINHO Ở OLD TRAFFORD: KHI NHỮNG KỊCH TÍNH THIẾU ĐIỀU THẦN KỲ

41598624_324743994942927_1437421126136365056_n

Tháng Năm, 1999, chỉ cần sáu âm tiết ấy thôi đủ để đánh động những trái tim đam mê bóng đá. Khi Solskjaer đưa bóng vào lưới Kahn để Man United hoàn tất cú ăn ba vĩ đại trong lịch sử, hẳn đã có rất nhiều tín đồ túc cầu vốn dĩ trước đó trung dung, hoặc chưa yêu Man United, nguyện hiến mình cho qủy đỏ. Sẽ không ai có thể thống kê được tỉ lệ % số ủng hộ viên mới mẻ của Man United sau địa chấn tại Camp Nou là bao nhiêu, nhưng có lẽ con số chắc chắn là đáng kể.

Thực sự, những người bắt đầu yêu Man United từ khoảnh khắc ấy không phải vì họ yêu thích một lối chơi, một thái độ thi đấu, một tinh thần cống hiến phóng khoáng rất Ăng lê mà họ yêu nó vì điều thần kỳ mà CLB ấy tạo ra. Thuở thập niên 90s, người ta vẫn còn giữ thói quen nói về các đội bóng Đức là “một khi người Đức đã dẫn trước thì cực khó để ghi bàn gỡ hòa trước họ, đặc biệt là ở những phút cuối trận”. Nhưng cú lội ngược dòng không thể tin nổi ấy (dù có người có thể đổ lỗi do sai lầm chiến thuật của Bayern, có người có thể nói là do Man United may mắn…) đã đánh đổ mọi thuộc tính mặc định mang tính lý thuyết về bóng đá của người Đức. Đặc biệt, nó lại xảy ra ở giai đoạn bóng đá Anh không hề mạnh mẽ ở các cúp châu Âu, giai đoạn mà người Đức, người Ý mới là những kẻ thống trị Champions League thực sự.

Và những ai yêu Man United từ trước thời điểm 1999 ấy đều có thể cùng chung nhận xét: Ở Man United, điều thần kỳ là những thứ vẫn thường xảy ra. Dường như đặc sản của Man United chính là những điều thần kỳ đến từ những cú lội ngược dòng kịch tính chết đi sống lại ấy. Ví như cú lội ngược dòng ngay tại Old Trafford năm 1993 trước Sheff Wednesday chẳng hạn. Steve Bruce với hai cú đánh đầu ở phút bù giờ đã khiến một Man United đang bị dẫn 0-1 thắng ngược lại 2-1. Hoặc cú lội ngược dòng năm 2001 trước Tottenham cũng là điển hình. Sau khi thua tan nát 0-3 ở hiệp 1, Man United thắng ngược lại 5-3. Trở về từ cõi chết và vinh quang đã là thói quen của Man United, một thói quen của kẻ quật cường, thói quen khiến người hâm mộ họ dù bị dìm xuống tận đáy của thất vọng nhưng cũng không hề tuyệt vọng. Đơn giản, họ tin, họ biết, trước mắt họ có thể sẽ xảy ra điều thần kỳ bất kỳ lúc nào.

Tất nhiên, không phải chỉ mình Man United là kẻ lội ngược dòng vĩ đại và chúng ta cũng từng chứng kiến Liverpool lội ngược dòng ra sao trước AC Milan hay Barca đã từ cõi chết sống dậy như thế nào trước PSG. Nhưng để thành một thói quen được đợi chờ như Man United thì gần như không có đội bóng nào cả. Và hơn nữa, điều thần kỳ ở Man United không chỉ là những cú lội ngược dòng kịch tính như thế. Nó còn là những câu chuyện cổ tích kiểu như Paul Scholes ở thời điểm 2012-2013. Quay trở lại sau khi đã tuyên bố treo giày vào tháng 1/2102, nửa cuối của mùa giải là khoảng thời gian Scholes đóng góp rất nhiều cho Man United trong cuộc đua với Man City và mùa sau (2012/13), anh cũng góp công không nhỏ để Man United lên ngôi vô địch (cũng là chức vô địch Premier League gần nhất của họ). Và nhắc đến Scholes, chúng ta không thể không kể đến bộ tứ huyền thoại và lý tưởng mà Alex Ferguson đã có, bộ tứ là hạt nhân tạo nên những điều thần kỳ. Họ là Beck, một chân tạt chuẩn đến từng millimet; là Keane, một chiến binh tranh chấp dũng mãnh số 1; là Giggs, một tay rê dắt bóng điệu nghệ và là Scholes, một chân chuyền sáng tạo mà chính Zidane còn phải nhận xét rằng “mong ước lớn nhất trong đời chơi bóng là được chơi bên cạnh Paul Scholes”.

Nhắc lại về cái gọi là thuộc tính “kịch tính và thần kỳ” của Man United hào hùng những ngày đó để chúng ta nói về câu chuyện của ngày hôm nay, câu chuyện giữa Mourinho và Man United, nhất là khi Mourinho đang làm việc tại Old Trafford ở mùa bóng thứ 3, mùa bóng định mệnh của nghiệp huấn luyện mà ông đeo đuổi, mùa bóng luôn luôn kết thúc bằng chia tay, thậm chí là chia tay bẽ bàng.

Hẳn rất nhiều ủng hộ viên Man United sẽ rất nuối tiếc khi nghe thông tin sau đây. Đó là tháng Ba năm 2014, khi chuẩn bị kết thúc mùa giải, và những người điều hành tại Man United đã quá ngán ngẩm với kỳ vọng mang tên David Moyes. Họ lập tức bay sang Đức, để gặp Jurgen Klopp. Người lựa chọn Klopp chính là Woodward, vị giám đốc đang có khả năng chia đôi lực lượng hâm mộ Man United vì “thích hoặc ghét”. Woodward nhận xét Klopp là người hoàn toàn có thể đáp ứng kỳ vọng tại Man United, khơi dậy tinh thần sinh động của đội bóng. Nhưng Woodward lại đưa ra một lời đề nghị quá kỳ dị, ít ra là không phù hợp với kiểu của bóng đá. “Nhà hát của những giấc mơ giống như một phiên bản người lớn của Disneyland vậy. Đó là nơi của kịch tính, và điều thần kỳ xảy ra”, Woodward giới thiệu Man United như vậy với Klopp và vị HLV trẻ người Đức cảm thấy không bị thuyết phục lắm. Với một người Đức, bóng đá không phải là câu chuyện phù phiếm, nhuốm màu cổ tích hay thần thoại như những bộ phim của Disney và những cầu thủ, HLV không phải những nhân vật giải trí như Mickey Mouse hay Tom & Jerry. Klopp kể lại với bạn bè mình rằng “lời đề nghị ấy thực sự unsexy”. Và sau đó, trên truyền thông, ông nói “Man United là một CLB vĩ đại, các CĐV của họ quá tuyệt vời. Nhưng rất tiếc, tôi còn cam kết với Dortmund và tôi ở lại đây đến hết hợp đồng”. Câu trả lời ấy chấm dứt giấc mơ hoạt hình của Woodward. Không có Klopp, Woodward không có một Peter Pan sinh động mà thay vào đó là một Louis Van Gaal, nửa vụng về như Donald và nửa khờ khạo như Pluto dù thực sự, ông là một HLV tài năng có thừa.

Sẽ rất nhiều người tưởng tượng rằng “nếu ngày ấy Klopp đến Old Trafford thì mọi việc bây giờ sẽ ra sao?” nhưng thực tế thì họ vẫn phải nghĩ về Mourinho. Mourinho đang ở đó. Mourinho bắt đầu mùa giải một cách vô cùng lạ kỳ là không dám tuyên bố chắc nịch về một mục tiêu phấn đấu nào đó mà thay vào đó là than thở về mua sắm. Và Mourinho đang trong hoài nghi về mối bất hoà với Paul Pogba cũng như khả năng bị sa thải để thay bằng Zidane, một người mà ta chưa biết sẽ là nhân vật Disney nào ở Old Trafford.

Ban đầu, chọn lựa Mourinho là một lựa chọn về lý thuyết thì rất phù hợp vớ Man United về tính thương hiệu. Man United là một CLB vĩ đại, và họ cần một HLV cũng phải có thương hiệu tương xứng. Nhưng nếu nói về thương hiệu, điều trớ trêu là ở mùa bóng đầu tiên Mourinho làm việc ở Old Trafford, Chelsea vẫn còn 1 năm hợp đồng sở hữu bản quyền giọng nói của Mourinho để sử dụng tại các cửa hàng của mình. Vì thế, cái gọi là phù hợp về lý thuyết kia cũng vô nghĩa trước thực tế. Sẽ ra sao nếu một CĐV Chelsea bước vào cửa hàng thân thuộc và nghe lời chào là giọng của một HLV Man United? May mà điều đó không xảy ra vì đã có những thương thảo đền bù hợp đồng kịp thời để Chelsea không còn sử dụng giọng nói của Mourinho nữa. Nhược bằng không, đó không khác gì một sỉ nhục.

Và thực tế, chọn một HLV thì phải căn cứ vào độ phù hợp về triết lý, chuyên môn và cá tính chứ không phải chuyện phù hợp về thương hiệu, dù bóng đá hôm nay đã là một guồng máy công nghiệp giải trí phức tạp và khổng lồ. Nếu chỉ lựa chọn vì thương hiệu, đã không có Ferguson ở Old Trafford và David Moyes đã không được ưu ái. Rõ ràng, thương hiệu chỉ là giá trị tăng thêm mà thôi. Còn lại, vẫn phải là triết lý, và cá tính.

Triểt lý của Mourinho, chúng ta khỏi bàn thêm nhiều, nó không hề phù hợp với triết lý bóng đá đã được tạo dựng ở Old Trafford. Mọi nỗ lực cố gắng thay đổi mình cho phù hợp đòi hỏi công việc của Mourinho đều không làm Man United sexy hơn mà ngược lại, kết quả lại càng bê bết hơn. Chính sự gượng ép ấy cũng làm Mourinho mất giá trong mắt người hâm mộ rất nhiều. Việc ông rời xa sở trường để theo đuổi sở đoản đã biến ông từ người đặc biệt (ở Chelsea lần đầu) sang người bình thường (ở Chelsea lần 2) và giờ là người tầm thường (ở Man United mùa giải chắc chắn là cuối cùng).

Về cá tính, Mourinho đúng là con người có thể tạo nên kịch tính nhưng buồn thay, nó là thứ kịch tính đường biên, kịch tính truyền thông hay kịch tính hậu trường chứ không phải là một HLV biết tạo ra một đội bóng chơi cống hiến đầy kịch tính kiểu Ferguson. Ferguson có thể đá bay giày rách mắt Beckham, có thể là máy sấy tóc trong phòng thay đồ, là kẻ mỉa mai thâm thúy nhất đối với Wenger nhưng trên sân, cầu thủ của ông thể hiện một lối chơi kịch tính đúng nghĩa. Và từ cái kịch tính ấy, những điều thần kỳ mới xảy ra với Man United, khiến CĐV của họ trải qua những cung bậc cảm xúc cực đoan nhất một cách đột ngột nhất.

Trước khi quay lại Man United năm 2016, Paul Pogba đã từng nói với mẹ của mình rằng “hồi đó, nếu họ tin tưởng con hơn, thì con chẳng bao giờ bỏ đi cả”. Họ lúc đó là ai? Đó là Ferguson. Và kỷ luật của Ferguson mới tạo ra chiến thắng. Đó là thứ kỷ luật của những ngôi sao hãy tỏa sáng trên sân chứ không phải lấp lánh trong phòng thay đồ với vài ba yêu sách vớ vẩn. Ferguson cưng cầu thủ nhưng không chiều cầu thủ. Ông để Pogba đi, dù rất tiếc, nhưng cũng nhờ ông để anh đi, anh mới trưởng thành đến thế ở Juve và trở thành Pogba hôm nay.

Còn Mourinho, ông hứa với Pogba khi thuyết phục anh về Man United như thế nào? “Tôi sẽ biến cậu thành tiền vệ xuất sắc nhất thế giới. Cậu sẽ là trái tim của Man United trong cả thập niên trước mắt”, Mourinho hứa. Lời hứa ấy đã bay đi đâu? Paul Pogba tài năng không thể định hình chỗ đứng ở Man United và chỉ tỏa sáng khi quay về với vòng tay Deschamps. Mỉa mai thay, khi anh ta toả sáng với Deschamps, Mourinho lại đưa ra vài lý do giải thích mà trong đó, phần lớn là ngụy biện và tự bảo vệ mình là chính.

Khi Mino Raiola nói với Pogba hè 2016 rằng “Mourinho muốn có cậu ở Man United”, Pogba trả lời người đại diện của mình là “Tôi muốn giành Champions League, và tôi chắc rằng ở Juve tôi khó có thể đoạt nổi nó”. Lúc ấy, Pogba chờ Real, nơi Zidane đang cầm quân. Với Pogba, Zidane là thần tượng và cũng chính Zidane nói về Pogba rằng “đó là một cầu thủ toàn diện”. Nhưng Raiola rồi Ibra đã thuyết phục Pogba rằng anh sẽ có nhiều khả năng có được Champions League ở Man United, CLB anh luôn để trong tim. “Đến Old Trafford với tôi đi. Cậu sẽ yêu Mourinho thôi. Ông ấy là HLV tuyệt vời nhất. Hai ta sẽ làm bão ở Premier League”, Ibra rủ rê Pogba. Cuối cùng, mùa giải họ chơi với nhau không hề có bão. Lời của Ibra và Mourinho về tương lai ở Old Trafford của Pogba chỉ là chém gió.

Biến một cầu thủ tiềm năng có sẵn như Pogba thành một tài năng: Mourinho đã thất bại trước nhiệm vụ ấy (ít nhất là đến lúc này). Tệ hại hơn, ông lại sa vào một cuộc chiến với chính tiềm năng đó, người đang nắm giá chuyển nhượng kỷ lục ở CLB, là một tài sản lớn, một thương hiệu còn lớn hơn ông về giá trị. Cuộc chiến đó, Mourinho chắc chắn thua, khi Zidane bắt đầu được lên sóng (dù là lá cải) về chuyện sẽ đến Man United.

Bao giờ Mourinho đi, bao giờ Zidane đến? Đáp án có lẽ sẽ có sớm. Mourinho không thể mang lại điều thần kỳ đáng trông đợi ở Man United thì chuyện ra đi là xứng đáng. Còn Zidane, nếu ông ta đến, những ai yêu Man United xin đừng tin vào việc sẽ mua 4 cầu thủ ngôi sao như báo chí đồn đoán. 4 cái tên ấy nuốt ít nhất cũng 400 triệu euro và không CLB điên rồ nào bỏ ngần ấy tiền cho cuộc tái thiết mùa đông. Và Zidane, nếu đến, ông sẽ phải chứng tỏ mình có thể tạo ra điều thần kỳ bằng chính đội hình hiện tại này, đội hình mà có thể nói, Mourinho đã bất lực.